3 GLT Gian- nơ, vợ Chu- xa, quản gia của Hê- rốt; Su- sa- nơ; và nhiều phụ nữ khác; họ phục vụ nhóm của Ngài bằng những tài vật họ sở hữu. BSB BSB: Joanna the wife of Herod’s household manager Chuza, Susanna, and many others. These women were ministering to them out of their own means.
4 GLT Khi đoàn dân đông tụ tập từ mỗi thành đi đến cùng Chúa Giê- xu, Ngài phán dạy bằng ẩn dụ: BSB BSB: While a large crowd was gathering and people were coming to Jesus from town after town, He told them this parable:
5 GLT “Một người gieo hạt đi ra để gieo hạt giống của mình, và trong lúc anh ta gieo, một số hạt giống rơi bên đường, bị giẫm dưới chân và chim trời ăn hết số hạt đó. BSB BSB: “A farmer went out to sow his seed. And as he was sowing, some seed fell along the path, where it was trampled, and the birds of the air devoured it.
6 GLT Số hạt khác rơi trên đá, nên khi mọc lên, số đó bị khô héo, vì chẳng có hơi ẩm. BSB BSB: Some fell on rocky ground, and when it came up, the seedlings withered because they had no moisture.
7 GLT Số khác nữa rơi vào giữa bụi gai, rồi khi mọc lên, thì gai làm cho nó nghẹt ngòi. BSB BSB: Other seed fell among thorns, which grew up with it and choked the seedlings.
8 GLT Và một số hạt khác rơi vào chỗ đất tốt, nên khi lớn lên, nó kết quả gấp trăm lần hơn.” Sau khi nói xong những lời ấy, Ngài kêu lên:“Ai có tai để nghe, hãy nghe.” BSB BSB: Still other seed fell on good soil, where it sprang up and produced a crop—a hundredfold.” As Jesus said this, He called out, “He who has ears to hear, let him hear.”
9 GLT Sau đó, các môn đồ của Ngài hỏi Ngài:“Ẩn dụ ấy là sao?” BSB BSB: Then His disciples asked Him what this parable meant.
10 GLT Ngài đáp:“Anh em đã được ban ơn để hiểu biết những sự huyền nhiệm về vương quốc của Thiên Chúa, nhưng với người khác thì dùng ẩn dụ, để‘khi nhìn, họ không thấy, và khi nghe, họ không hiểu.’ BSB BSB: He replied, “The knowledge of the mysteries of the kingdom of God has been given to you, but to others I speak in parables, so that, ‘though seeing, they may not see; though hearing, they may not understand.’
11 GLT Ẩn dụ ấy là thế này: Hạt giống là đạo của Thiên Chúa. BSB BSB: Now this is the meaning of the parable: The seed is the word of God.
12 GLT Các chỗ bên đường là những người đã nghe, nhưng sau đó ma quỷ đến và cướp lấy đạo khỏi lòng họ hầu cho họ không tin để được cứu. BSB BSB: The seeds along the path are those who hear, but the devil comes and takes away the word from their hearts, so that they may not believe and be saved.
13 GLT Những chỗ trên đá chỉ về những người khi họ đã nghe, thì với sự vui mừng, họ nhận lấy đạo. Nhưng họ không có rễ, tức là những người chỉ tin nhất thời, và trong lúc thử thách, thì họ bỏ cuộc. BSB BSB: The seeds on rocky ground are those who hear the word and receive it with joy, but they have no root. They believe for a season, but in the time of testing, they fall away.
14 GLT Còn về một số hạt đã rơi giữa các bụi gai, thì chỗ này là những người đã nghe, rồi khi tiếp tục hành trình đời mình, họ bị làm cho nghẹt ngòi bởi những lo lắng, sự giàu sang và lạc thú đời này, và họ không trưởng thành được. BSB BSB: The seeds that fell among the thorns are those who hear, but as they go on their way, they are choked by the worries, riches, and pleasures of this life, and their fruit does not mature.
15 GLT Nhưng về phần hạt giống trên đất tốt, đây là những người với tấm lòng chân thành và thiện ý, sau khi nghe đạo thì họ giữ chắc lấy và kết quả trong sự bền lòng. BSB BSB: But the seeds on good soil are those with a noble and good heart, who hear the word, cling to it, and by persevering produce a crop.
16 GLT Sau khi thắp đèn, chẳng ai đậy nó lại bằng cái thùng hay để dưới giường. Thay vào đó, người ta đặt nó trên chân đèn để những người bước vào có thể nhìn thấy ánh sáng. BSB BSB: No one lights a lamp and covers it with a jar or puts it under a bed. Instead, he sets it on a stand, so those who enter can see the light.
17 GLT Vì chẳng có điều gì được giấu kín mà sẽ không bị lộ ra, cũng chẳng có bí mật nào mà chắc chắn không bị tiết lộ và phơi bày ra rõ ràng. BSB BSB: For there is nothing hidden that will not be disclosed, and nothing concealed that will not be made known and brought to light.
18 GLT Thế nên, hãy cẩn thận về cách anh em nghe, vì ai có sẽ được cho thêm, còn ai không có, thậm chí điều người ấy tưởng mình có cũng sẽ bị lấy đi khỏi người.” BSB BSB: Pay attention, therefore, to how you listen. Whoever has will be given more, but whoever does not have, even what he thinks he has will be taken away from him.”
19 GLT Lúc đó mẹ và các em Ngài đến với Ngài, nhưng họ không thể tiếp cận Ngài được vì cớ đám đông. BSB BSB: Then Jesus’ mother and brothers came to see Him, but they were unable to reach Him because of the crowd.
20 GLT Rồi, việc ấy được báo cho Ngài:“Mẹ thầy cùng các em của thầy đang đứng bên ngoài, muốn gặp thầy.” BSB BSB: He was told, “Your mother and brothers are standing outside, wanting to see You.”
21 GLT Nhưng khi trả lời, Ngài nói với họ:“Đây là mẹ tôi và anh em tôi, là những ai nghe và làm theo lời Thiên Chúa.” BSB BSB: But He replied, “My mother and brothers are those who hear the word of God and carry it out.”
22 GLT Việc xảy ra vào một ngày kia, Ngài cùng với các môn đồ của mình bước lên một chiếc thuyền, và Ngài nói với họ:“Chúng ta cần phải đi sang bờ hồ bên kia.” Rồi họ đưa thuyền đi. BSB BSB: One day Jesus said to His disciples, “Let us cross to the other side of the lake.” So He got into a boat with them and set out.
23 GLT Trong lúc họ chèo thuyền thì Ngài ngủ. Kế đó, một trận gió lốc dữ dội thổi xuống trên biển hồ, họ bị nước vào đầy thuyền và rất nguy kịch. BSB BSB: As they sailed, He fell asleep, and a windstorm came down on the lake, so that the boat was being swamped, and they were in great danger.
24 GLT Họ đến gần đánh thức Ngài, rằng:“Thầy ơi! Thầy ơi! Chúng ta sắp chết!” Nhưng khi Ngài thức dậy, Ngài quở gió và nước cuồn cuộn, thì chúng ngừng lại và cảnh vật trở nên bình lặng. BSB BSB: The disciples went and woke Him, saying, “Master, Master, we are perishing!” Then Jesus got up and rebuked the wind and the raging waters, and they subsided, and all was calm.
25 GLT Ngài nói với họ:“Đức tin của anh em đâu?” Trong nỗi khiếp sợ, họ kinh ngạc nói cùng nhau:“Rốt cuộc thầy là ai mà thầy ra lệnh cho cả gió với nước, và chúng phải vâng theo thầy?” BSB BSB: “Where is your faith?” He asked. Frightened and amazed, they asked one another, “Who is this? He commands even the winds and the water, and they obey Him!”
26 GLT Rồi họ chèo thuyền đến vùng Giê- ra- sê, là nơi ở đối diện với vùng Ga- li- lê. BSB BSB: Then they sailed to the region of the Gerasenes, across the lake from Galilee.
27 GLT Khi Ngài bước lên bờ, một người nọ thuộc thành ấy đi ra đón Ngài, người đó bị quỷ ám. Đã một thời gian dài, anh ta không mặc quần áo, cũng không sống trong nhà, nhưng ở nơi mồ mả. BSB BSB: When Jesus stepped ashore, He was met by a demon-possessed man from the town. For a long time this man had not worn clothing or lived in a house, but he stayed in the tombs.
28 GLT Lúc nhìn thấy Chúa Giê- xu, anh ta la lên, sấp xuống trước Ngài và nói lớn tiếng:“Ôi, Giê- xu, Con Thiên Chúa Chí Cao, tôi với Ngài có can hệ gì? Tôi van Ngài, xin đừng đày đọa tôi.” BSB BSB: When the man saw Jesus, he cried out and fell down before Him, shouting in a loud voice, “What do You want with me, Jesus, Son of the Most High God? I beg You not to torture me!”
29 GLT Vì Ngài đã truyền lệnh cho uế linh đi ra khỏi người đàn ông ấy. Bởi nhiều phen nó chiếm hữu anh, còn anh vốn đã bị xiềng lại bằng xích và cùm, dù cho bị canh giữ, thì bởi ma quỷ, mỗi khi bứt phá xiềng, anh bị đưa đẩy vào hoang mạc. BSB BSB: For Jesus had commanded the unclean spirit to come out of the man. Many times it had seized him, and though he was bound with chains and shackles, he had broken the chains and been driven by the demon into solitary places.
30 GLT Bấy giờ, Chúa Giê- xu hỏi nó:“Tên mày là gì?” Nó đáp:“Quân Đoàn,” vì nhiều quỷ đã ám vào anh ta. BSB BSB: “What is your name?” Jesus asked. “Legion,” he replied, because many demons had gone into him.
31 GLT Rồi chúng cứ van xin Ngài để Ngài đừng truyền lệnh cho chúng phải đi xuống vực sâu. BSB BSB: And the demons kept begging Jesus not to order them to go into the Abyss.
32 GLT Tại đó có một bầy heo rất đông đang ăn trên triền đồi, chúng xin Ngài để Ngài cho phép chúng nhập vào bầy heo. Và Ngài cho phép chúng. BSB BSB: There on the hillside a large herd of pigs was feeding. So the demons begged Jesus to let them enter the pigs, and He gave them permission.
33 GLT Thế là, khi đã ra khỏi người đàn ông, lũ quỷ nhập vào bầy heo, rồi cả bầy đâm đầu chạy theo triền dốc lao xuống hồ và bị chết chìm. BSB BSB: Then the demons came out of the man and went into the pigs, and the herd rushed down the steep bank into the lake and was drowned.
34 GLT Sau khi những kẻ chăn heo chứng kiến sự việc vừa diễn ra, thì họ chạy trốn và thuật lại việc ấy trong thành lẫn trong vùng thôn quê. BSB BSB: When those tending the pigs saw what had happened, they ran off and reported this in the town and countryside.
35 GLT Thế nên, dân chúng kéo đến để xem chuyện đã xảy ra, họ đến chỗ Chúa Giê- xu và thấy người đàn ông, mà lũ quỷ đã ra khỏi, đang ngồi nơi chân Chúa Giê- xu, được mặc quần áo, và tâm trí tỉnh táo, thì họ bị hoảng loạn. BSB BSB: So the people went out to see what had happened. They came to Jesus and found the man whom the demons had left, sitting at Jesus’ feet, clothed and in his right mind; and they were afraid.
36 GLT Những người đã chứng kiến kể lại cho họ cách nào mà người bị quỷ ám đã được cứu chữa. BSB BSB: Meanwhile, those who had seen it reported how the demon-possessed man had been healed.
37 GLT Cả đám đông trong vùng Giê- ra- sê xin Ngài rời khỏi họ, vì họ bị cơn hoảng loạn kinh khiếp vây chặt. Thế nên, Ngài bước lên thuyền và quay về. BSB BSB: Then all the people of the region of the Gerasenes asked Jesus to depart from them, because great fear had taken hold of them. So He got into the boat and started back.
38 GLT Người đàn ông, mà lũ quỷ đã ra khỏi, nài xin Ngài để ở cùng Ngài, nhưng Ngài cho anh về, nói rằng: BSB BSB: The man whom the demons had left begged to go with Jesus. But He sent him away, saying,
39 GLT “Hãy trở về nơi nhà của anh và hãy tường thuật mọi việc Thiên Chúa đã làm cho anh.” Rồi anh lên đường rao khắp cả thành mọi việc Chúa Giê- xu đã làm cho mình. BSB BSB: “Return home and describe how much God has done for you.” So the man went away and proclaimed all over the town how much Jesus had done for him.
40 GLT Khi Chúa Giê- xu trở về, một đoàn dân đông nghênh tiếp Ngài, vì mọi người đều đang trông đợi Ngài. BSB BSB: When Jesus returned, the crowd welcomed Him, for they had all been waiting for Him.
41 GLT Và xem kìa, một người tiến đến, tên của ông là Giai- ru, ông là người quản lý nhà hội. Sấp mình nơi chân Chúa Giê- xu, ông cầu xin Ngài đi đến nhà mình, BSB BSB: Just then a synagogue leader named Jairus came and fell at Jesus’ feet. He begged Him to come to his house,
42 GLT vì đứa con gái duy nhất đối với ông, khoảng mười hai tuổi, cô bé đang hấp hối. Khi Ngài đang đi đường, đám đông dân chúng lấn ép chung quanh Ngài. BSB BSB: because his only daughter, who was about twelve, was dying. As Jesus went with him, the crowds pressed around Him,
43 GLT Có một phụ nữ với căn bệnh rong huyết đã mười hai năm, dù đã tiêu tốn hết tiền của cho thầy thuốc, mà chẳng có bất kỳ ai có thể chữa được bệnh cho chị. BSB BSB: including a woman who had suffered from bleeding for twelve years. She had spent all her money on physicians, but no one was able to heal her.
44 GLT Bằng cách tiếp cận từ phía sau, chị chạm vào mép áo của Ngài, và lập tức, chứng rong huyết của chị cầm lại. BSB BSB: She came up behind Jesus and touched the fringe of His cloak, and immediately her bleeding stopped.
45 GLT Chúa Giê- xu nói:“Ai là người đã chạm vào tôi?” Nhưng ai nấy đều phủ nhận, Phi- e- rơ lên tiếng:“Thưa thầy, đám đông dân chúng đang vây quanh và lấn ép thầy.” BSB BSB: “Who touched Me?” Jesus asked. But they all denied it. “Master,” said Peter, “the people are crowding and pressing against You.”
46 GLT Nhưng Chúa Giê- xu nói:“Một ai đó đã chạm vào thầy, vì thầy biết năng quyền từ mình đã phát ra.” BSB BSB: But Jesus declared, “Someone touched Me, for I know that power has gone out from Me.”
47 GLT Bấy giờ, khi người phụ nữ nhận thấy rằng chị đã không che giấu được, thì chị run rẩy tiến đến và sau khi sấp mình xuống trước Ngài, chị trình bày trước mặt hết thảy dân chúng vì lý do gì mà chị đã chạm vào Ngài và chị đã được lành ngay tức thì ra sao. BSB BSB: Then the woman, seeing that she could not escape notice, came trembling and fell down before Him. In the presence of all the people, she explained why she had touched Him and how she had immediately been healed.
48 GLT Ngài nói với chị:“Con gái ơi, đức tin của con đã chữa lành con. Hãy đi trong sự bình an.” BSB BSB: “Daughter,” said Jesus, “your faith has healed you. Go in peace.”
49 GLT Khi Ngài còn đang nói, ai đó từ nhà của người quản lý nhà hội đến báo rằng:“Con gái ông đã chết. Đừng làm phiền thầy nữa.” BSB BSB: While He was still speaking, someone arrived from the house of the synagogue leader. “Your daughter is dead,” he told Jairus. “Do not bother the Teacher anymore.”
50 GLT Nhưng khi Chúa Giê- xu nghe lời đó, Ngài đáp cùng ông:“Đừng sợ, hãy có lòng tin mà thôi thì cô bé sẽ được cứu.” BSB BSB: But Jesus overheard them and said to Jairus, “Do not be afraid; just believe, and she will be healed.”
51 GLT Khi đã đi đến nhà, Ngài không cho ai vào với Ngài, ngoại trừ Phi- e- rơ, Giăng, Gia- cơ, cùng cha và mẹ của đứa trẻ. BSB BSB: When He entered the house, He did not allow anyone to go in with Him except Peter, John, James, and the child’s father and mother.
52 GLT Hết thảy đang than khóc và đấm ngực vì cô bé, nhưng Ngài nói:“Đừng khóc, vì cô bé chưa chết, mà chỉ đang ngủ.” BSB BSB: Meanwhile, everyone was weeping and mourning for her. But Jesus said, “Stop weeping; she is not dead but asleep.”
53 GLT Họ cười nhạo Ngài, vì biết rằng đứa trẻ đã chết. BSB BSB: And they laughed at Him, knowing that she was dead.
54 GLT Nhưng sau khi cầm tay cô bé, Ngài gọi lớn, rằng:“Bé gái ơi, hãy dậy đi.” BSB BSB: But Jesus took her by the hand and called out, “Child, get up!”
55 GLT Linh hồn của đứa trẻ trở lại và cô bé lập tức ngồi dậy, rồi Ngài bảo cho cô bé ăn. BSB BSB: Her spirit returned, and at once she got up. And He directed that she be given something to eat.
56 GLT Cha mẹ cô bé vô cùng kinh ngạc, nhưng Ngài dặn bảo họ không nói với ai về việc đã xảy ra. BSB BSB: Her parents were astounded, but Jesus ordered them not to tell anyone what had happened.