1 UDB Thật dại dột cho ai tự khen tặng mình, nhưng đó là điều tôi đang làm đây. Xin hãy cho phép tôi tiếp tục khoe thêm chút nữa. BSB BSB: I hope you will put up with a little of my foolishness, but you are already doing that.
3 UDB Nhưng khi tôi nghĩ về anh em, tôi e sợ có kẻ đã lừa dối anh em, như ma quỷ đã dối gạt Ê-va vậy. Tôi sợ rằng có kẻ đã dụ dỗ khiến anh em không còn yêu mến Chúa Cứu Thế thật lòng nữa. BSB BSB: I am afraid, however, that just as Eve was deceived by the serpent’s cunning, your minds may be led astray from your simple and pure devotion to Christ.
4 UDB Tôi nói vậy vì dường như anh em chẳng xem có gì nghiêm trọng nếu có ai đó đến dạy anh em về Chúa Giê-xu khác với những điều chúng tôi đã dạy, hoặc nếu người đó muốn anh em tiếp nhận một linh khác với Thánh Linh của Đức Chúa Trời, hay tiếp nhận một Tin Lành khác. BSB BSB: For if someone comes and proclaims a Jesus other than the One we proclaimed, or if you receive a different spirit than the One you received, or a different gospel than the one you accepted, you put up with it very easily.
5 UDB Người ta gọi những giáo sư đó là “siêu sứ đồ,” nhưng tôi không cho là họ có gì hơn tôi. BSB BSB: I consider myself in no way inferior to those “super-apostles.”
6 UDB Có thể đúng là tôi chưa từng học biết cách diễn thuyết cho hấp dẫn, nhưng tôi chắc chắn biết nhiều về Đức Chúa Trời, như anh em đã biết khi nghe tôi nói chuyện. BSB BSB: Although I am not a polished speaker, I am certainly not lacking in knowledge. We have made this clear to you in every way possible.
7 UDB Phải chăng tôi sai khi phục vụ anh em như một người khiêm nhường, để cho anh em thay vì chính tôi được người khác khen tặng? Phải chăng tôi sai khi giảng Tin Lành cho anh em mà không yêu cầu được trả công? BSB BSB: Was it a sin for me to humble myself in order to exalt you, because I preached the gospel of God to you free of charge?
8 UDB Phải, tôi đã chấp nhận tín hữu tại các Hội Thánh khác dâng tiền giúp tôi để tôi có thể phục vụ anh em. Có lẽ anh em sẽ nói rằng tôi cướp đoạt của họ. Nhưng anh em thì tôi chẳng đòi hỏi gì. BSB BSB: I robbed other churches by accepting their support in order to serve you.
9 UDB Có một lần khi ở với anh em, tôi cần nhiều thứ, nhưng tôi không hề hỏi xin tiền của ai hết. Thay vào đó, các anh em đến từ tỉnh Ma-xê-đoan đã chu cấp cho tôi tất cả mọi thứ tôi cần. Tôi đã làm mọi điều có thể làm để anh em không phải chịu phiền lụy vì cớ tôi, và đây là điều tôi sẽ tiếp tục làm. BSB BSB: And when I was with you and in need, I was not a burden to anyone; for the brothers who came from Macedonia supplied my needs. I have refrained from being a burden to you in any way, and I will continue to do so.
10 UDB Tôi đang nói thật hoàn toàn về Chúa Cứu Thế cũng như về cách tôi phục vụ Ngài. Cho nên tôi sẽ tiếp tục nói cho mọi người trong cả xứ A-chai biết về điều này. BSB BSB: As surely as the truth of Christ is in me, this boasting of mine will not be silenced in the regions of Achaia.
11 UDB Anh em đừng nghĩ rằng tôi từ chối tiền của anh em vì tôi không yêu thương anh em(?) Ngược lại là đằng khác! Đức Chúa Trời biết tôi yêu quý anh em! BSB BSB: Why? Because I do not love you? God knows I do!
12 UDB Tôi sẽ tiếp tục phục vụ anh em y như vậy, để tôi ngăn những kẻ nói rằng họ ngang bằng với chúng tôi. Họ không có cớ gì để biện minh cho việc họ khoe khoang. BSB BSB: But I will keep on doing what I am doing, in order to undercut those who want an opportunity to be regarded as our equals in the things of which they boast.
13 UDB Những người như thế là sứ đồ giả, mạo nhận rằng Đức Chúa Trời đã sai phái họ. Họ là những người làm công chuyên nói dối và giả vờ làm sứ đồ của Chúa Cứu Thế đó thôi. BSB BSB: For such men are false apostles, deceitful workers, masquerading as apostles of Christ.
14 UDB Họ không khiến chúng tôi ngạc nhiên. Ngay cả Sa-tan cũng giả dạng làm thiên sứ chiếu ra vinh quang hiện diện của Đức Chúa Trời. BSB BSB: And no wonder, for Satan himself masquerades as an angel of light.
15 UDB Tôi tớ của nó cũng vờ phục vụ Đức Chúa Trời và làm ra vẻ thiện lành. Đức Chúa Trời sẽ hình phạt họ cách xứng đáng BSB BSB: It is not surprising, then, if his servants masquerade as servants of righteousness. Their end will correspond to their actions.
16 UDB Đừng ai cho rằng tôi tôi dại. Nhưng nếu anh em thật sự cho rằng tôi dại, thì tôi sẽ tiếp tục khoe mình thêm ít nữa. BSB BSB: I repeat: Let no one take me for a fool. But if you do, then receive me as a fool, so that I too may boast a little.
17 UDB Khi tôi nói kiểu này thì đây không phải là cách Chúa nói về tôi, mà chỉ là cách tôi nói như một kẻ xuẩn ngốc. BSB BSB: In this confident boasting of mine, I am not speaking as the Lord would, but as a fool.
18 UDB Nhiều người tự hào về vị thế của mình trong đời này. Tôi cũng có thể làm vậy! BSB BSB: Since many are boasting according to the flesh, I too will boast.
19 UDB Hẵn anh em sẽ dung chịu sự ngu dại của tôi vì chính anh em quá đỗi khôn ngoan! BSB BSB: For you gladly put up with fools, since you are so wise.
20 UDB Tôi nói vậy vì anh em dung chịu những người lãnh đạo đã đãi anh em như nô lệ; anh em đã đi theo những người gây ra chia rẽ giữa vòng anh em; anh em để cho những người lãnh đạo của mình lợi dụng mình; anh em cho phép họ tưởng mình giỏi hơn người khác; anh em còn để cho họ vả vào mặt mình mà chẳng làm gì hết. Và phải chăng anh em thật sự gọi đó là khôn ngoan? BSB BSB: In fact, you even put up with anyone who enslaves you or exploits you or takes advantage of you or exalts himself or strikes you in the face.
21 UDB Tôi có thể xấu hổ vì khi chúng tôi ở với anh em, chúng tôi đã quá nhút nhát mà không dám đãi anh em như thế. BSB BSB: To my shame I concede that we were too weak for that! Speaking as a fool, however, I can match what anyone else dares to boast about.
22 UDB Phải chăng những người đó là người Hy-bá-lai? Tôi cũng là người Hy-bá-lai vậy. Phải chăng họ là dân Y-sơ-ra-ên. Tôi cũng là dân Y-sơ-ra-ên. Phải chăng họ là con cháu Áp-ra-ham? Tôi cũng thế. BSB BSB: Are they Hebrews? So am I. Are they Israelites? So am I. Are they descendants of Abraham? So am I.
23 UDB Phải chăng họ là tôi tớ của Chúa Cứu Thế?— Tôi nói như một người mất trí! Tôi đã làm việc cực nhọc hơn bất kỳ người nào trong số họ; tôi đã chịu tù rạc nhiều hơn; tôi đã bị đánh đập nặng nề hơn, và tôi cũng đối diện với cái chết nhiều hơn họ. BSB BSB: Are they servants of Christ? (I am speaking as if I were out of my mind.) I am so much more: in harder labor, in more imprisonments, in worse beatings, in frequent danger of death.
24 UDB Năm lần người Do Thái phạt tôi ba mươi chín roi, dùng roi da đánh tôi đến gần chết. BSB BSB: Five times I received from the Jews the forty lashes minus one.
25 UDB Ba lần tôi bị những kẻ bắt tôi đánh bằng gậy. Có lần họ ném đá để giết chết tôi. Ba lần tôi đi tàu gặp bão, và có lần lênh đênh một ngày một đêm trên biển chờ được cứu giúp. BSB BSB: Three times I was beaten with rods, once I was stoned, three times I was shipwrecked. I spent a night and a day in the open sea.
26 UDB Tôi trải qua nhiều chuyến hành trình, nếm biết nguy hiểm trên sông nước; gặp nguy hiểm với kẻ cướp; gặp nguy hiểm với chính đồng bào của mình là người Do Thái; gặp nguy với dân ngoại; gặp nguy hiểm ở thị thành, nơi hoang mạc, trên đại dương; gặp nguy hiểm với những anh em giả dối phản bội chúng tôi. BSB BSB: In my frequent journeys, I have been in danger from rivers and from bandits, in danger from my countrymen and from the Gentiles, in danger in the city and in the country, in danger on the sea and among false brothers,
27 UDB Tôi đã làm việc cực khổ và chịu khó nhọc, thường phải bị mất ngủ; tôi từng chịu đói, chịu khát vì thiếu ăn. Tôi từng chịu lạnh vì thiếu mặc. BSB BSB: in labor and toil and often without sleep, in hunger and thirst and often without food, in cold and exposure.
28 UDB Ngoài các điều đó ra, mỗi ngày tôi đều phải lo về tình trạng các Hội Thánh. BSB BSB: Apart from these external trials, I face daily the pressure of my concern for all the churches.
29 UDB Không có một anh em tín hữu nào yếu đuối mà tôi không trở nên yếu đuối với họ. Chẳng có tín hữu nào khiến một anh em khác phạm tội mà tôi không rất đỗi tức giận về điều đó. BSB BSB: Who is weak, and I am not weak? Who is led into sin, and I do not burn with grief?
30 UDB Nếu phải khoe khoang, thì tôi sẽ chỉ khoe về những điều như vậy, là những điều cho thấy tôi yếu đuối biết bao. BSB BSB: If I must boast, I will boast of the things that show my weakness.
31 UDB Đức Chúa Trời và Cha của Chúa Cứu Thế Giê-xu biết tôi không nói dối! Nguyện mọi người và mọi vật dâng sự ngợi khen cho Ngài! BSB BSB: The God and Father of the Lord Jesus, who is forever worthy of praise, knows that I am not lying.
32 UDB Tại thành Đa-mách, quan tổng trấn dưới quyền Vua A-rê-ta đã cho quân lính canh gác chung quanh thành, với hy vọng sẽ bắt được tôi. BSB BSB: In Damascus, the governor under King Aretas secured the city of the Damascenes in order to arrest me.
33 UDB Nhưng bạn bè tôi đã cho tôi vào một cái thúng và giòng tôi xuống bên ngoài thành, qua một cửa sổ trên tường thành. Vậy là tôi thoát khỏi tay ông ta. BSB BSB: But I was lowered in a basket through a window in the wall and escaped his grasp.
Select verses for actions: Enter goes to them and Escape comes back.