2 UDB Chúng tôi làm vậy vì Đức Chúa Trời đã bảo tôi rằng chúng tôi phải đi. Tôi giải thích riêng cho các lãnh đạo tín hữu quan trọng nhất nội dung của tin mừng mà tôi công bố trong các vùng đất thuộc người không phải là dân Do Thái. Tôi làm vậy vì tôi muốn chắc rằng họ tán đồng những gì tôi rao giảng. Tôi muốn bảo đảm rằng mình đã không làm việc vô ích. BSB BSB: I went in response to a revelation and set before them the gospel that I preach among the Gentiles. But I spoke privately to those recognized as leaders, for fear that I was running or had already run in vain.
3 UDB Nhưng các lãnh đạo đó thậm chí không yêu cầu làm cắt bì cho Tít, người ngoại quốc chưa chịu cắt bì cùng đi với tôi. BSB BSB: Yet not even Titus, who was with me, was compelled to be circumcised, even though he was a Greek.
4 UDB Mấy người yêu cầu anh ta chịu cắt bì không phải là tín hữu thật, mà họ chỉ làm ra vẻ mình là anh em tín hữu đó thôi. Họ theo dõi kỹ chúng tôi để xem chúng tôi vâng phục Đức Chúa Trời thế nào khi không theo các điều luật và lễ nghi Do Thái, vì chúng tôi biết rằng Chúa Cứu Thế Giê-xu đã giải phóng chúng tôi khỏi những thứ đó rồi. Mấy tín hữu giả danh này muốn biến chúng tôi ra giống như các nô lệ của luật pháp. BSB BSB: This issue arose because some false brothers had come in under false pretenses to spy on our freedom in Christ Jesus, in order to enslave us.
5 UDB Nhưng thậm chí chỉ trong chốc lát thôi chúng tôi cũng không đồng ý với họ về chuyện cắt bì. Chúng tôi phản đối họ để tin mừng thật về Chúa Cứu Thế có thể tiếp tục đem lại lợi ích cho anh em. BSB BSB: We did not give in to them for a moment, so that the truth of the gospel would remain with you.
6 UDB Nhưng các lãnh đạo tại Giê-ru-sa-lem không thêm gì vào những điều tôi công bố. Các lãnh đạo ấy là những người quan trọng, nhưng họ chẳng quan trọng gì đối với tôi, vì Đức Chúa Trời đâu có thiên vị người này với người kia. BSB BSB: But as for the highly esteemed—whatever they were makes no difference to me; God does not show favoritism—those leaders added nothing to me.
7 UDB Thay vào đó, các lãnh đạo hiểu rằng Đức Chúa Trời đang ủy thác tôi công bố tin mừng cho người ngoại quốc, cũng giống như Phi-e-rơ công bố tin mừng cho người Do Thái. BSB BSB: On the contrary, they saw that I had been entrusted to preach the gospel to the uncircumcised, just as Peter had been to the circumcised.
8 UDB Tức là, như Đức Chúa Trời đã trao quyền cho Phi-e-rơ ra đi làm sứ đồ đem sứ điệp của Đức Chúa Trời đến cho người Do Thái, thì Ngài cũng trao quyền cho tôi ra đi làm sứ đồ đem sứ điệp của Ngài đến cho người không phải là Do Thái. BSB BSB: For the One who was at work in Peter’s apostleship to the circumcised was also at work in my apostleship to the Gentiles.
9 UDB Các lãnh đạo đó hiểu rằng Đức Chúa Trời đã vui lòng giao cho tôi sứ mạng đặc biệt này. Vậy nên Gia-cơ, Phi-e-rơ, và Giăng, tức lãnh đạo của những người đã tin Chúa Cứu Thế, các lãnh đạo được nhiều người biết đến và tôn trọng, đã bắt tay chúng tôi vì chúng tôi là đồng sự của họ. Chúng tôi đồng ý rằng Đức Chúa Trời đã sai chúng tôi đến với người không phải là dân Do Thái, và chịu cắt bì, như Ngài đã sai họ đến với người Do Thái đã chịu cắt bì. BSB BSB: And recognizing the grace that I had been given, James, Cephas, and John—those reputed to be pillars—gave me and Barnabas the right hand of fellowship, so that we should go to the Gentiles, and they to the circumcised. 10 UDB Họ chỉ nài khuyên chúng tôi cứ nhớ giúp đỡ người nghèo giữa vòng anh em tín hữu sống tại Giê-ru-sa-lem. Đó chính là việc mà tôi vẫn hăng hái thực hiện. BSB BSB: They only asked us to remember the poor, the very thing I was eager to do.
11 UDB Nhưng sau này, trong lúc tôi ở tại thành An-ti-ốt, sau khi Phi-e-rơ đến đó, tôi đã nhìn ngay vào ông và cho biết rằng cách hành xử của ông thật sai trái. BSB BSB: When Cephas came to Antioch, however, I opposed him to his face, because he stood condemned.
12 UDB Sự việc là thế này: Phi-e-rơ đến An-ti-ốt và bắt đầu ăn uống bình thường với các tín hữu không phải là Do Thái tại đó. Sau đó, có mấy tín hữu Do Thái đến An-ti-ốt, nhận rằng Gia-cơ, lãnh đạo tín hữu tại Giê-ru-sa-lem, đã sai phái họ. Khi mấy người đó đến, Phi-e-rơ không ăn chung với các tín hữu ngoại quốc, cũng không giao thiệp với họ nữa. Ông sợ các tín hữu Do Thái từ Giê-ru-sa-lem sẽ chỉ trích mình vì giao thiệp với người không phải là Do Thái. BSB BSB: For before certain men came from James, he used to eat with the Gentiles. But when they arrived, he began to draw back and separate himself, for fear of those in the circumcision group.
13 UDB Rồi các tín hữu Do Thái khác tại An-ti-ốt cũng bắt chước việc làm giả dối của Phi-e-rơ mà tự tách mình khỏi các tín hữu không phải là Do Thái. Thậm chí Ba-na-ba cũng nghĩ rằng mình phải thôi giao thiệp với người ngoại quốc! BSB BSB: The other Jews joined him in his hypocrisy, so that by their hypocrisy even Barnabas was led astray.
14 UDB Khi tôi nhận ra họ không đi theo chân lý của tin mừng về Chúa Cứu Thế, và khi tất cả anh em tín hữu đã nhóm lại, tôi nói với Phi-e-rơ trước mặt họ hết thảy: “Anh là người Do Thái, mà lại sống như người ngoại quốc không theo luật pháp. Vậy thì làm sao anh thuyết phục được người ngoại quốc sống giống như người Do Thái?” BSB BSB: When I saw that they were not walking in line with the truth of the gospel, I said to Cephas in front of them all, “If you, who are a Jew, live like a Gentile and not like a Jew, how can you compel the Gentiles to live like Jews?”
15 UDB Chúng tôi sinh ra là người Do Thái, không phải người ngoại quốc có tội chẳng biết gì về luật pháp của Đức Chúa Trời. BSB BSB: We who are Jews by birth and not Gentile “sinners”
16 UDB Nhưng giờ đây chúng tôi biết rằng không phải người ta nhờ vâng giữ luật pháp Đức Chúa Trời ban cho Môi-se mà Ngài khiến họ nên công chính trước mặt Ngài. Đức Chúa Trời chỉ làm vậy nếu người ta tin cậy Chúa Cứu Thế Giê-xu. Thậm chí một số người Do Thái chúng tôi đây cũng đã tin cậy Chúa Cứu Thế Giê-xu. Chúng tôi làm vậy để Đức Chúa Trời tuyên bố chúng tôi là công chính trước mặt Ngài, bởi chúng tôi tin cậy Chúa Cứu Thế chứ không phải do chúng tôi cố gắng vâng giữ luật pháp mà Đức Chúa Trời ban cho Môi-se. Đức Chúa Trời đã nói rằng Ngài sẽ không xưng ai là công chính trước mặt Ngài chỉ vì họ vâng giữ luật pháp. BSB BSB: know that a man is not justified by works of the law, but by faith in Jesus Christ. So we, too, have believed in Christ Jesus, that we may be justified by faith in Christ and not by works of the law, because by works of the law no one will be justified.
17 UDB Nhưng khi chúng tôi xin Đức Chúa Trời khiến chúng tôi nên công chính trước mặt Ngài nhờ tin cậy Đấng Christ, chúng tôi không còn gắng sức vâng giữ luật pháp nữa, nên luật pháp chứng minh chúng tôi là kẻ có tội vì đã làm như vậy. Nhưng điều này không có nghĩa là Chúa Cứu Thế ủng hộ tội lỗi. Chắc chắn là không! BSB BSB: But if, while we seek to be justified in Christ, we ourselves are found to be sinners, does that make Christ a minister of sin? Certainly not!
18 UDB Nếu tôi lại tin rằng Đức Chúa Trời sẽ khiến tôi nên công chính trước mặt Ngài nhờ tôi vâng giữ luật pháp, thì tôi sẽ giống như người đi xây lại một tòa nhà cũ kỹ, lung lay mà anh ta đã phá bỏ. Mọi người sẽ thấy rằng tôi vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời. BSB BSB: If I rebuild what I have already torn down, I prove myself to be a lawbreaker.
19 UDB Khi tôi gắng sức vâng giữ luật pháp của Đức Chúa Trời thì tôi trở nên như một người đã chết; dường như thể luật pháp đã giết chết tôi. Việc xảy ra như vậy để tôi có thể sống mà tôn thờ Đức Chúa Trời. BSB BSB: For through the law I died to the law so that I might live to God.
20 UDB Dường như thể lối sống cũ của tôi chấm dứt khi Chúa Cứu Thế chết trên cây thập hình. Tôi không còn điều khiển cuộc đời của mình. Chúa Cứu Thế hiện sống trong lòng tôi mới là người chỉ đạo cách sống của tôi. Và bất kỳ việc gì giờ đây tôi làm trong lúc tôi sống là tôi làm với lòng tin cậy Con Đức Chúa Trời. Ngài là Đấng đã yêu tôi và đã hiến mình làm sinh tế để có thể cung ứng sự tha thứ của Đức Chúa Trời dành cho tôi. BSB BSB: I have been crucified with Christ, and I no longer live, but Christ lives in me. The life I live in the body, I live by faith in the Son of God, who loved me and gave Himself up for me.
21 UDB Tôi không muốn phủ nhận lòng nhân từ của Đức Chúa Trời, như thể giữ luật pháp có thể khiến chúng ta nên công chính. Vì nếu vậy thì Chúa Cứu Thế chịu chết trên cây thập hình chẳng ích lợi gì cả. BSB BSB: I do not set aside the grace of God. For if righteousness comes through the law, then Christ died for nothing.
Select verses for actions: Enter goes to them and Escape comes back.