1 UDB Bây giờ, tôi sẽ luận bàn thêm về vấn đề con và người thừa kế. Người thừa kế là cậu con trai mà về sau sẽ sở hữu mọi thứ cha mình có. Nhưng bao lâu mà cậu còn bé thì cậu cũng giống như một nô lệ dưới quyền của người khác. BSB BSB: What I am saying is that as long as the heir is a child, he is no different from a slave, although he is the owner of everything.
2 UDB Có những người giám sát cậu và quản lý tài sản của cậu, cho đến ngày người cha đã định từ trước. BSB BSB: He is subject to guardians and trustees until the date set by his father.
3 UDB Cũng vậy, khi chúng ta còn giống trẻ con thì chúng ta vẫn chịu sự chi phối của những lề luật tà ác mà mọi người trong thế giới này vẫn sống theo. Những lề luật ấy kiểm soát chúng ta giống như người chủ cai trị các nô lệ của mình. BSB BSB: So also, when we were children, we were enslaved under the basic principles of the world.
5 UDB Đức Chúa Trời đã sai phái Chúa Giê-xu để giải thoát chúng ta khỏi luật pháp đang kiểm soát chúng ta. Ngài làm vậy để nhận chúng ta làm con của Ngài. BSB BSB: to redeem those under the law, that we might receive our adoption as sons.
6 UDB Vì giờ đây anh em là con của Đức Chúa Trời, nên Ngài sai Thánh Linh của Con Ngài vào sống trong mỗi chúng ta. Chính Thánh Linh này của Ngài khiến chúng ta có thể xưng hô với Đức Chúa Trời rằng: “Thưa Cha, là Cha quý mến của chúng con!” BSB BSB: And because you are sons, God sent the Spirit of His Son into our hearts, crying out, “Abba, Father!”
7 UDB Vậy nên, nhờ những gì Đức Chúa Trời đã làm, chẳng ai trong anh em còn giống như nô lệ nữa. Thay vào đó, mỗi người đều là con Đức Chúa Trời. Vì từng anh em bây giờ đều là con Đức Chúa Trời, nên Đức Chúa Trời cũng sẽ ban cho mỗi người mọi điều mà Ngài đã hứa. Chính Đức Chúa Trời sẽ làm việc đó! BSB BSB: So you are no longer a slave, but a son; and since you are a son, you are also an heir through God.
8 UDB Khi anh em không biết Đức Chúa Trời, anh em thờ phụng những thần không có thật. Anh em làm nô lệ cho chúng. BSB BSB: Formerly, when you did not know God, you were slaves to those who by nature are not gods.
9 UDB Nhưng giờ đây anh em đã biết Đức Chúa Trời là Chúa của mình rồi. Tuy nhiên, có lẽ sẽ đúng hơn nếu nói rằng giờ đây Đức Chúa Trời biết đến từng anh em. Vậy, sao anh em lại quay trở lại để theo những lề luật hèn yếu và tà ác vô ích đó của đời này? Anh em đâu có thực sự lại muốn trở thành nô lệ nữa, phải vậy không? BSB BSB: But now that you know God, or rather are known by God, how is it that you are turning back to those weak and worthless principles? Do you wish to be enslaved by them all over again?
10 UDB Thực ra thì có vẻ như anh em muốn đấy. Anh em lại đang tuân giữ những gì người khác nài ép mình làm trong những ngày đặc biệt và những dịp đặc biệt vào tháng, mùa, năm nào đó. BSB BSB: You are observing special days and months and seasons and years!
11 UDB Tôi lo cho anh em! Tôi đã lao nhọc vì anh em, nhưng dường như tất cả đều vô ích. BSB BSB: I fear for you, that my efforts for you may have been in vain.
12 UDB Anh em tín hữu của tôi, tôi mạnh mẽ khuyên giục anh em hãy trở nên giống như tôi, vì tôi không để cho luật pháp cai trị mình. Tôi đã trở nên giống như người không phải là Do Thái như anh em khi tôi được tự do đối với luật pháp, cho nên anh em cũng nên cắt đứt những ràng buộc với các thần kia đi. Khi tôi lúc đầu đến chỗ anh em, anh em chẳng làm hại gì cho tôi cả, nhưng giờ thì anh em lại khiến tôi rất lo lắng về anh em. BSB BSB: I beg you, brothers, become like me, for I became like you. You have done me no wrong.
13 UDB Chắc anh em vẫn nhớ là khi tôi rao giảng tin mừng cho anh em lần đầu, tôi đã làm việc đó vì tôi đang bệnh. BSB BSB: You know that it was because of an illness that I first preached the gospel to you.
14 UDB Mặc dầu anh em có thể khinh thường tôi vì tôi mắc bệnh, nhưng anh em đã chẳng khước từ tôi. Thay vào đó, anh em đã nghênh tiếp tôi như thể nghênh tiếp thiên sứ của Đức Chúa Trời. Anh em đã nghênh tiếp tôi như thể anh em đang nghênh tiếp chính Chúa Cứu Thế Giê-xu vậy! BSB BSB: And although my illness was a trial to you, you did not despise or reject me. Instead, you welcomed me as if I were an angel of God, as if I were Christ Jesus Himself.
15 UDB Thế mà giờ đây anh em chẳng còn vui sướng nữa! Tôi biết chắc rằng lúc đó anh em sẵn sàng làm bất kỳ việc gì để nâng đỡ tôi. Anh em chắc đã móc mắt mà cho tôi, nếu việc làm ấy giúp ích cho tôi! BSB BSB: What then has become of your blessing? For I can testify that, if it were possible, you would have torn out your eyes and given them to me.
16 UDB Đó là lý do vì sao giờ đây tôi rất buồn. Có vẻ như anh em cho rằng tôi đã trở thành kẻ thù của anh em khi tôi tiếp tục nói thật với anh em về Chúa Cứu Thế. BSB BSB: Have I now become your enemy by telling you the truth?
17 UDB Những kẻ khăng khăng rằng cần phải tuân giữ luật pháp Do Thái đang cố dụ anh em theo họ, nhưng họ làm vậy không phải vì ích lợi cho anh em. Họ chỉ muốn ngăn cách anh em với tôi, vì họ muốn anh em theo họ thay vì theo tôi. BSB BSB: Those people are zealous for you, but not in a good way. Instead, they want to isolate you from us, so that you may be zealous for them.
18 UDB Cứ một mực làm điều phải là tốt lắm; anh em cần phải luôn như vậy, không chỉ khi tôi có mặt với anh em. Nhưng cần phải chắc rằng những người dạy bảo anh em là người đàng hoàng. BSB BSB: Nevertheless, it is good to be zealous if it serves a noble purpose—at any time, and not only when I am with you.
19 UDB Thưa anh em mà tôi xem như con mình, một lần nữa tôi rất lo cho anh em, và tôi sẽ vẫn cứ lo lắng như vậy cho đến khi anh em trở nên giống Chúa Cứu Thế. BSB BSB: My children, for whom I am again in the pains of childbirth until Christ is formed in you,
20 UDB Nhưng tôi thật ước ao có thể đến chỗ anh em vào lúc này, để có thể nói với anh em dịu dàng hơn, vì ngay lúc này tôi chẳng biết phải làm gì với anh em. BSB BSB: how I wish I could be with you now and change my tone, because I am perplexed about you.
21 UDB Để tôi cố gắng giải thích lại vấn đề này. Một số người trong anh em muốn tuân giữ hết luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng anh em đã thực sự lưu ý luật pháp nói gì chưa? BSB BSB: Tell me, you who want to be under the law, do you not understand what the law says?
22 UDB Trong luật pháp, chúng ta đọc thấy Áp-ra-ham làm cha của hai người con. Người nữ nô lệ của ông là A-ga sinh một con trai, và vợ ông là Sa-ra, vốn không phải là nô lệ, sinh một con trai nữa. BSB BSB: For it is written that Abraham had two sons, one by the slave woman and the other by the free woman.
23 UDB Ích-ma-ên, cậu con trai do người nữ nô lệ A-ga sinh ra, được thai dựng một cách tự nhiên. Nhưng Y-sác, cậu con sinh ra bởi Sa-ra, phụ nữ không phải là nô lệ, được thai dựng nhờ phép lạ, vì Đức Chúa Trời đã hứa với Áp-ra-ham rằng ông sẽ có con trai. BSB BSB: His son by the slave woman was born according to the flesh, but his son by the free woman was born through the promise.
24 UDB Hai phụ nữ này là biểu tượng cho hai giao ước. Đức Chúa Trời lập giao ước đầu tiên với dân Y-sơ-ra-ên tại núi Si-nai. Giao ước đó đòi hỏi người Y-sơ-ra-ên sống như một nô lệ đối với luật pháp. A-ga, người nữ nô lệ, là biểu tượng của giao ước này. BSB BSB: These things serve as illustrations, for the women represent two covenants. One covenant is from Mount Sinai and bears children into slavery: This is Hagar.
25 UDB Cho nên A-ga là biểu tượng của núi Si-nai, trong đất A-ra-bi. Nhưng A-ga cũng là biểu tượng của thành Giê-ru-sa-lem như thực trạng của thành đó ngày nay. Sở dĩ như vậy là vì Giê-ru-sa-lem giống như người mẹ nô lệ; thành ấy cùng với mọi con cái mình, tức là cư dân nó, giống như nô lệ, vì tất cả họ đều phải vâng theo luật pháp mà Đức Chúa Trời đã ban cho dân Y-sơ-ra-ên tại núi Si-nai. BSB BSB: Now Hagar stands for Mount Sinai in Arabia and corresponds to the present-day Jerusalem, because she is in slavery with her children.
26 UDB Nhưng có một thành Giê-ru-sa-lem mới trên trời, và thành đó giống như mẹ của hết thảy chúng ta, những người tin Chúa Cứu Thế, và thành đó là tự do! BSB BSB: But the Jerusalem above is free, and she is our mother.
27 UDB Thành Giê-ru-sa-lem mới đó sẽ có nhiều dân cư hơn Giê-ru-sa-lem cũ. Sở dĩ như vậy là vì tiên tri Ê-sai đã viết: “Ngươi là kẻ sống tại Giê-ru-sa-lem, ngươi phải vui mừng lên! Hiện ngươi chưa có con, chẳng khác gì phụ nữ son sẻ! Nhưng rồi đây ngươi sẽ lớn tiếng reo mừng, cho dù hiện ngươi không có con. Giống như người phụ nữ không con, ngươi thấy mình bị bỏ rơi. Nhưng ngươi sẽ có nhiều con hơn bất kỳ phụ nữ có chồng nào đã từng sinh con.” BSB BSB: For it is written: “Rejoice, O barren woman, who bears no children; break forth and cry aloud, you who have never travailed; because more are the children of the desolate woman than of her who has a husband.”
28 UDB Thưa anh em tín hữu của tôi, anh em đã trở nên con cái của Đức Chúa Trời vì anh em đã tin nơi những gì Đức Chúa Trời hứa ban cho chúng ta. Anh em giống như Y-sác, cậu con được sanh ra nhờ Áp-ra-ham tin lời Đức Chúa Trời hứa ban cho mình. BSB BSB: Now you, brothers, like Isaac, are children of promise.
29 UDB Nhưng ngày xưa, cậu con Ích-ma-ên của Áp-ra-ham, vốn được sinh ra theo cách tự nhiên, đã gây rắc rối cho cậu con Y-sác của ông, vốn được sinh ra nhờ Thánh Linh tác động. Tình trạng hiện nay cũng tương tự. Những kẻ làm nô lệ cho luật pháp của Đức Chúa Trời bức hại những người trong chúng ta tin cậy vào những gì Chúa Cứu Thế đã hứa ban cho mình. BSB BSB: At that time, however, the son born by the flesh persecuted the son born by the Spirit. It is the same now.
30 UDB Nhưng lời trong Kinh Thánh chép: “Con của người phụ nữ không phải là nô lệ sẽ thừa hưởng những gì cha mình sở hữu. Còn cậu bé nô lệ sẽ chẳng hưởng được gì. Vậy nên hãy đuổi khỏi đây người nữ nô lệ và con trai chị ta!” BSB BSB: But what does the Scripture say? “Expel the slave woman and her son, for the slave woman’s son will never share in the inheritance with the free woman’s son.”
31 UDB Thưa anh em tín hữu, tổ tiên chúng ta không phải là người nữ nô lệ, mà là người nữ tự do! BSB BSB: Therefore, brothers, we are not children of the slave woman, but of the free woman.
Select verses for actions: Enter goes to them and Escape comes back.