1 UDB Luật pháp không chỉ rõ những điều tốt lành Đức Chúa Trời sẽ ban cho chúng ta sau này. Luật pháp giống như hình bóng của một điều gì đó khác. Nếu mỗi năm người ta đến thờ phượng Đức Chúa Trời bằng việc dâng cùng một loại sinh tế, thì họ không bao giờ có thể trở nên hoàn hảo. BSB BSB: For the law is only a shadow of the good things to come, not the realities themselves. It can never, by the same sacrifices offered year after year, make perfect those who draw near to worship.
2 UDB Nếu Đức Chúa Trời đã xóa bỏ tội lỗi của những người đem những con sinh này đến, thì họ sẽ không cảm thấy mình còn mắc tội. Như thế, chắc chắn họ sẽ không dâng những con sinh ấy nữa! BSB BSB: If it could, would not the offerings have ceased? For the worshipers would have been cleansed once for all, and would no longer have felt the guilt of their sins.
3 UDB Nhưng thay vì vậy, việc họ dâng những con sinh đó hàng năm nhắc họ nhớ rằng họ vẫn có tội. BSB BSB: Instead, those sacrifices are an annual reminder of sins,
4 UDB Vậy, chúng ta biết rằng dù cho chúng ta dâng những con vật như bò đực hoặc dê cho Đức Chúa Trời, dù cho Ngài có nhìn thấy huyết chúng chảy ra thì điều đó sẽ không ngăn chúng ta khỏi tình trạng có tội. BSB BSB: because it is impossible for the blood of bulls and goats to take away sins.
5 UDB Đó là lý do vì sao, khi Chúa Cứu Thế đến thế gian, Ngài đã thưa với Cha Ngài, “Cha không muốn sinh tế và của lễ, nhưng Cha đã chuẩn bị cho Con một thân thể để trao dâng. BSB BSB: Therefore, when Christ came into the world, He said: “Sacrifice and offering You did not desire, but a body You prepared for Me.
6 UDB Những con vật bị toàn thiêu khi người ta dâng lên cho Cha không làm vui lòng Cha, những tế lễ khác cũng vậy. BSB BSB: In burnt offerings and sin offerings You took no delight.
7 UDB Vì cớ đó Ta nói rằng, “Lạy Đức Chúa Trời của Con, xin nghe! Con đã đến đây để làm điều Cha muốn Con làm, như họ đã chép về Con trong Kinh Thánh.’” BSB BSB: Then I said, ‘Here I am, it is written about Me in the scroll: I have come to do Your will, O God.’”
8 UDB Đầu tiên, Chúa Cứu Thế nói rằng, “Sinh tế, của lễ và những con vật bị các thầy tế lễ toàn thiêu cùng những của dâng khác để chuộc tội cho những người đã phạm tội không phải là điều Cha thực sự muốn. Chúng không khiến Cha vui lòng.” Ngài nói như vậy mặc dù những vật đó đã được dâng lên theo luật pháp Đức Chúa Trời đã ban cho Môi-se! BSB BSB: In the passage above He says, “Sacrifices and offerings, burnt offerings and sin offerings You did not desire, nor did You delight in them” (although they are offered according to the law).
9 UDB Sau đó, về việc Ngài dâng chính mình làm sinh tế để chuộc tội cho con người, Ngài nói rằng, “Xin nghe! Con đã đến đây để làm điều Cha muốn Con làm!” Như vậy, Chúa Cứu Thế đã bỏ phương cách chuộc tội ban đầu, để thiết lập phương cách chuộc tội thứ hai. BSB BSB: Then He adds, “Here I am, I have come to do Your will.” He takes away the first to establish the second.
10 UDB Vì Chúa Cứu Thế Giê-xu đã thực hiện việc Đức Chúa Trời muốn Ngài làm, nên Đức Chúa Trời đã biệt riêng chúng ta ra cho Ngài. Điều đó diễn ra khi Chúa Cứu Thế Giê-xu dâng chính thân thể Ngài làm sinh tế một lần, là sinh tế Ngài chẳng bao giờ phải dâng lại. BSB BSB: And by that will, we have been sanctified through the sacrifice of the body of Jesus Christ once for all.
12 UDB Nhưng Chúa Cứu Thế đã dâng một sinh tế đủ dùng đến đời đời, và Ngài chỉ dâng một lần duy nhất! Sau đó, Ngài ngồi bên cạnh Đức Chúa Trời tại nơi cao trọng nhất để cai trị. BSB BSB: But when this Priest had offered for all time one sacrifice for sins, He sat down at the right hand of God.
13 UDB Từ nay trở đi, Ngài đang chờ đợi Đức Chúa Trời đánh bại hoàn toàn mọi kẻ thù của Ngài. BSB BSB: Since that time, He waits for His enemies to be made a footstool for His feet,
14 UDB Qua việc dâng chính mình làm tế lễ chuộc tội một lần đủ cả, Ngài đã khiến những người được Đức Chúa Trời thực hiện công việc rửa sạch và thanh tẩy trở nên hoàn hảo đến đời đời. BSB BSB: because by a single offering He has made perfect for all time those who are being sanctified.
15 UDB Đức Thánh Linh cũng xác nhận với chúng ta rằng đó là sự thật. Đầu tiên Ngài nói rằng: BSB BSB: The Holy Spirit also testifies to us about this. First He says:
16 UDB “Khi thời của giao ước đầu tiên với dân Ta đã qua, Ta sẽ lập với chúng một giao ước mới. Ta sẽ làm điều này cho họ: Ta sẽ khiến họ hiểu được luật pháp Ta và khiến họ vâng giữ luật pháp ấy.” BSB BSB: “This is the covenant I will make with them after those days, declares the Lord. I will put My laws in their hearts and inscribe them on their minds.”
17 UDB Rồi Ngài nói: “Ta sẽ tha thứ tội lỗi cho họ, và xem như họ không còn mắc tội nữa.” BSB BSB: Then He adds: “Their sins and lawless acts I will remember no more.”
18 UDB Khi Đức Chúa Trời đã tha thứ tội lỗi cho ai, thì người đó không cần dâng thêm của lễ nào để chuộc tội cho mình! BSB BSB: And where these have been forgiven, an offering for sin is no longer needed.
20 UDB Ngài đã khiến chúng ta có thể bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời bằng cách mở ra một con đường mới để qua đó chúng ta được sống đời đời. Con đường mới này chính là Chúa Giê-xu, Đấng đã chết vì chúng ta. BSB BSB: by the new and living way opened for us through the curtain of His body,
21 UDB Chúa Cứu Thế là thầy tế lễ vĩ đại cai trị trên chúng ta, là con dân của Đức Chúa Trời. BSB BSB: and since we have a great priest over the house of God,
22 UDB Vì thế, chúng ta phải đến với Đức Chúa Trời một cách chân thành, bởi niềm tin cậy xác quyết nơi Chúa Giê-xu. Chính Ngài là Đấng đã khiến cho lòng chúng ta sạch khỏi sự phạm tội, như thể Ngài đã rảy huyết báu của chính Ngài trên tấm lòng của chúng ta, và như thể Ngài đã rửa sạch thân thể chúng ta bằng nước thanh khiết. BSB BSB: let us draw near with a sincere heart in full assurance of faith, having our hearts sprinkled to cleanse us from a guilty conscience and our bodies washed with pure water.
25 UDB Chúng ta không được từ bỏ việc nhóm lại để thờ phượng Chúa như một số người đã làm. Thay vào đó, mỗi người trong chúng ta phải khích lệ người khác. Chúng ta hãy làm điều đó càng nhiều hơn vì biết rằng thời điểm Chúa trở lại đã gần. BSB BSB: Let us not neglect meeting together, as some have made a habit, but let us encourage one another, and all the more as you see the Day approaching.
26 UDB Nếu chúng ta cố ý và thường xuyên phạm tội sau khi chúng ta đã nhận biết sứ điệp chân chính về Chúa Cứu Thế, thì không một sinh tế nào có thể giúp chúng ta. BSB BSB: If we deliberately go on sinning after we have received the knowledge of the truth, no further sacrifice for sins remains,
27 UDB Thay vào đó, chúng ta phải trông đợi một cách sợ sệt rằng Đức Chúa Trời sẽ phán xét chúng ta, và rồi Ngài sẽ hình phạt tất cả các kẻ thù của Ngài trong lửa cuồng nộ một cách công bình. BSB BSB: but only a fearful expectation of judgment and of raging fire that will consume all adversaries.
28 UDB Người nào chối bỏ luật pháp mà Đức Chúa Trời ban cho Môi-se thì phải chết mà không được khoan hồng khi có ít nhất hai hoặc ba người làm chứng chống lại người ấy. BSB BSB: Anyone who rejected the law of Moses died without mercy on the testimony of two or three witnesses.
29 UDB Đó là một hình phạt nặng nề. Nhưng Chúa Cứu Thế là Con Đức Chúa Trời, và Ngài cũng là Đức Chúa Trời. Nếu người nào chối bỏ giao ước Ngài đã lập và khinh bỉ huyết đã tuôn ra từ Ngài– nếu người đó chối bỏ huyết mà nhờ đó Đức Chúa Trời tha thứ cho người– nếu người đó chối bỏ Thánh Linh của Đức Chúa Trời, là Đấng đã hành động một cách rất nhân từ với người– khi đó, Đức Chúa Trời sẽ hình phạt người đó một cách vô cùng, vô cùng nặng nề. BSB BSB: How much more severely do you think one deserves to be punished who has trampled on the Son of God, profaned the blood of the covenant that sanctified him, and insulted the Spirit of grace?
30 UDB Chúng ta biết chắc điều này, vì chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời đã phán, “Quyền và năng lực để ban cho con người những gì mà họ đáng nhận vì đã phạm tội thuộc về Ta. Ta sẽ phạt họ cách xứng đáng.” Và Môi-se có viết, “Chúa sẽ phán xét dân Ngài.” BSB BSB: For we know Him who said, “Vengeance is Mine; I will repay,” and again, “The Lord will judge His people.”
31 UDB Thật kinh khiếp nếu Đức Chúa Trời toàn năng là Đấng thật sống bắt phạt anh em! BSB BSB: It is a fearful thing to fall into the hands of the living God.
32 UDB Xin nhớ lại thuở ban đầu khi anh em mới hiểu chân lý về Chúa Cứu Thế. Anh em đã chịu đựng nhiều hoạn nạn, và khi chịu khổ, anh em cứ tiếp tục tin cậy Đức Chúa Trời. BSB BSB: Remember the early days that you were in the light. In those days, you endured a great conflict in the face of suffering.
33 UDB Có những lúc người ta sỉ nhục anh em trước đông người; những lúc khác họ khiến anh em chịu khổ. Có đôi lúc anh em đồng cam cộng khổ với những tín hữu khác trong những cơn hoạn nạn của họ. BSB BSB: Sometimes you were publicly exposed to ridicule and persecution; at other times you were partners with those who were so treated.
34 UDB Anh em không chỉ tử tế với những người bị tù đày vì họ tin nơi Chúa Cứu Thế, mà anh em còn vui vẻ chấp nhận khi những người vô tín cướp lấy tài sản của anh em. Anh em chấp nhận điều đó vì bản thân anh em biết rất rõ rằng mình có tài sản đời đời trên thiên đàng, tốt hơn rất nhiều so với những của cải đã bị họ lấy đi! BSB BSB: You sympathized with those in prison and joyfully accepted the confiscation of your property, knowing that you yourselves had a better and permanent possession.
35 UDB Vì thế, xin đừng ngã lòng khi họ khiến anh em chịu khổ, vì nếu anh em cứ tin cậy Đức Chúa Trời, Ngài sẽ thưởng lớn cho anh em. BSB BSB: So do not throw away your confidence; it holds a great reward.
36 UDB Anh em phải kiên nhẫn tiếp tục tin cậy Ngài để rồi, vì cớ anh em thực hiện những gì Đức Chúa Trời muốn anh em làm, Ngài sẽ ban cho anh em những điều Ngài đã hứa. BSB BSB: You need to persevere, so that after you have done the will of God, you will receive what He has promised.
37 UDB Trong Kinh Thánh, một nhà tiên tri đã viết Đức Chúa Trời phán về Đấng Mết-si-a: “Một thời gian ngắn nữa thôi Đấng Ta đã hứa sẽ đến chắc chắn sẽ đến; Ngài sẽ không chậm trễ đâu. BSB BSB: For, “In just a little while, He who is coming will come and will not delay.
38 UDB Nhưng những người thuộc về Ta, là những người hành động một cách công bình, sẽ tiếp tục sống tin cậy nơi Ta. Nếu họ hèn nhát và không tin cậy Ta nữa, Ta sẽ không hài lòng về họ. BSB BSB: But My righteous one will live by faith; and if he shrinks back, I will take no pleasure in him.”
39 UDB Nhưng chúng ta không phải là những người hèn nhát và khiến cho Đức Chúa Trời hủy diệt chúng ta. Thay vào đó, chúng ta là những người tin cậy Ngài, để rồi, Ngài sẽ cứu chúng ta đời đời. BSB BSB: But we are not of those who shrink back and are destroyed, but of those who have faith and preserve their souls.
Select verses for actions: Enter goes to them and Escape comes back.