1 UDB Vậy, chúng ta không được tiếp tục thảo luận những gì chúng ta đã học từ đầu về Chúa Cứu Thế nữa, tức là những điều đầu tiên mà mọi tín hữu đều phải học. Một vài điều trong số những điều này là làm sao để ngừng phạm tội và làm sao để bắt đầu tin cậy nơi Đức Chúa Trời. Cũng có những điều quan trọng chúng ta dạy về những loại hình báp-tem khác nhau, vì sao chúng ta thường đặt tay cầu nguyện trên người khác; và cả việc Đức Chúa Trời sẽ khiến tất cả chúng ta sống lại từ kẻ chết và phán xét mọi người đời đời ra làm sao. Thực ra, chúng ta sẽ thảo luận lại những vấn đề này sau, nếu Đức Chúa Trời cho chúng ta cơ hội làm điều đó. Nhưng bây giờ chúng ta phải bàn về những điều khó hiểu hơn; đây là những điều sẽ giúp chúng ta luôn tin cậy nơi Chúa Cứu Thế dù có xảy ra chuyện gì đi nữa. BSB BSB: Therefore let us leave the elementary teachings about Christ and go on to maturity, not laying again the foundation of repentance from dead works, and of faith in God,
5 UDB Chính họ đã tự nhận thấy sứ điệp của Đức Chúa Trời là tốt lành, và họ đã học biết Đức Chúa Trời sẽ hành động một cách đầy quyền năng thế nào trong tương lai. BSB BSB: who have tasted the goodness of the word of God and the powers of the coming age—
6 UDB Nhưng bây giờ, nếu những người này chối bỏ Chúa Cứu Thế, thì không ai có thể thuyết phục họ ngừng phạm tội và trở lại tin cậy Ngài được! Vì điều đó giống như thể những người này đã đóng đinh Con Đức Chúa Trời vào thập tự giá một lần nữa! Họ khiến cho người ta khinh rẻ Chúa Cứu Thế trước mặt những người khác! BSB BSB: and then have fallen away—to be restored to repentance, because they themselves are crucifying the Son of God all over again and subjecting Him to open shame.
7 UDB Xin nghĩ về điều này: Đức Chúa Trời ban phước cho vùng đất thường xuyên có mưa và cây cối phát triển cho người làm nông. BSB BSB: For land that drinks in the rain often falling on it and that produces a crop useful to those for whom it is tended receives the blessing of God.
8 UDB Nhưng điều sẽ xảy đến cho những tín hữu không vâng lời Đức Chúa Trời cũng giống như những gì xảy ra cho vùng đất chỉ có gai gốc và cỏ dại. Đất như vậy là vô dụng. Nó trở thành vùng đất bị người làm nông nguyền rủa và cây cối mọc trên đó sẽ bị thiêu rụi. BSB BSB: But land that produces thorns and thistles is worthless, and its curse is imminent. In the end it will be burned.
9 UDB Các bạn thân mến, anh em có thể thấy rằng tôi đang cảnh báo anh em đừng chối bỏ Chúa Cứu Thế. Đồng thời, tôi cũng khẳng định rằng anh em đang làm tốt hơn như vậy. Anh em đang làm những việc đúng đắn cho những người Đức Chúa Trời đã cứu. BSB BSB: Even though we speak like this, beloved, we are convinced of better things in your case—things that accompany salvation.
10 UDB Vì Đức Chúa Trời luôn luôn hành xử công bằng, nên Ngài sẽ không xem nhẹ những gì anh em đã làm cho Ngài; Ngài sẽ không xem nhẹ việc anh em đã yêu thương và giúp đỡ những anh em tín hữu của mình thế nào, và vẫn đang giúp đỡ họ ra sao. BSB BSB: For God is not unjust. He will not forget your work and the love you have shown for His name as you have ministered to the saints and continue to do so.
11 UDB Chúng tôi vô cùng ao ước mỗi người trong anh em tiếp tục hết lòng trông đợi nhận lãnh những gì Đức Chúa Trời đã ban cho anh em, cho đến khi anh em nhận lãnh mọi sự từ Ngài. BSB BSB: We want each of you to show this same diligence to the very end, in order to make your hope sure.
12 UDB Tôi không muốn anh em lười biếng. Thay vào đó, tôi muốn anh em thực hiện những gì các tín hữu khác đã làm, là những người đang nhận lãnh những điều Đức Chúa Trời đã hứa với họ, vì họ tin cậy Ngài và có lòng kiên nhẫn. BSB BSB: Then you will not be sluggish, but will imitate those who through faith and patience inherit what has been promised.
13 UDB Khi Đức Chúa Trời hứa làm những việc lớn cho Áp-ra-ham, không có ai lớn hơn Ngài để Ngài có thể nhờ người đó buộc Ngài phải làm những điều ấy. Vì thế Ngài đã tự yêu cầu chính mình. BSB BSB: When God made His promise to Abraham, since He had no one greater to swear by, He swore by Himself,
14 UDB Rồi Ngài nói với Áp-ra-ham rằng, “Chắc chắn Ta sẽ ban phước cho con và sẽ làm cho dòng dõi của con gia tăng bội phần.” BSB BSB: saying, “I will surely bless you and multiply your descendants.”
15 UDB Vì vậy, sau khi Áp-ra-ham đã kiên nhẫn chờ đợi Đức Chúa Trời thực hiện những điều Ngài đã hứa, thì Ngài đã thực hiện những gì Ngài đã hứa với ông. BSB BSB: And so Abraham, after waiting patiently, obtained the promise.
16 UDB Xin nhớ rằng khi người ta hứa một điều gì đó, thì họ sẽ nhờ một người quan trọng hơn phạt họ nếu họ không thực hiện lời hứa của mình. Đây là cách họ thường giải quyết tranh chấp. BSB BSB: Men swear by someone greater than themselves, and their oath serves as a confirmation to end all argument.
17 UDB Vì thế, khi Đức Chúa Trời muốn bày tỏ rõ ràng cho chúng ta, là những người sẽ nhận lãnh điều Ngài đã hứa, thấy rằng Ngài sẽ không thay đổi kế hoạch Ngài đã định thì Ngài phán rằng Ngài sẽ tự tuyên mình là có tội nếu Ngài không thực hiện lời Ngài đã hứa. BSB BSB: So when God wanted to make the unchanging nature of His purpose very clear to the heirs of the promise, He guaranteed it with an oath.
18 UDB Ngài làm vậy để khích lệ chúng ta một cách mạnh mẽ, vì Ngài đã làm hai điều không thể thay đổi: Ngài đã hứa sẽ giúp đỡ chúng ta, và Ngài đã phán với chúng ta rằng Ngài sẽ tự tuyên mình là có tội nếu Ngài không giúp đỡ chúng ta. Vậy, Đức Chúa Trời không thể nói dối. Đó là lý do chúng ta đã tin cậy Ngài và bây giờ có đủ lý do để tiếp tục làm như vậy. BSB BSB: Thus by two unchangeable things in which it is impossible for God to lie, we who have fled to take hold of the hope set before us may be strongly encouraged.
19 UDB Phải, chúng ta trông đợi với lòng tin quyết sẽ nhận lãnh điều Đức Chúa Trời đã hứa thực hiện cho chúng ta. Chúng ta giống như con tàu, neo chặt vào một chỗ. Đấng mà chúng ta trông đợi với lòng tin quyết sẽ nắm giữ chúng ta chính là Chúa Giê-xu, vì Ngài đã bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Đây là lý do Ngài giống như thầy tế lễ thượng phẩm, người đi ra sau tấm màn, bước vào nơi chí thánh của Đền Tạm, là nơi mà Đức Chúa Trời hiện diện. BSB BSB: We have this hope as an anchor for the soul, firm and secure. It enters the inner sanctuary behind the curtain,
20 UDB Đức Chúa Giê-xu đã vào trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời trước chúng ta để cho phép chúng ta cũng được bước vào nơi đó với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Giê-xu đã trở thành thầy tế lễ thượng phẩm đời đời, y như chức tế lễ của Mên-chi-xê-đéc. BSB BSB: where Jesus our forerunner has entered on our behalf. He has become a high priest forever in the order of Melchizedek.
Select verses for actions: Enter goes to them and Escape comes back.