3 UDB Người sẽ gọi những ai nghe mình từ trong hoang mạc rằng, ‘Hãy làm cho mình sẵn sàng để chào chào đón Chúa.'" BSB BSB: “A voice of one calling in the wilderness, ‘Prepare the way for the Lord, make straight paths for Him.’”
4 UDB Người sứ giả mà Ê-sai đề cập đến chính là Giăng. Dân chúng gọi ông là “Người Làm Báp-têm.” Giăng ở trong hoang mạc; ông làm báp-têm cho dân chúng và nói với họ rằng, “Hãy đau buồn vì mình đã phạm tội và quyết định đừng phạm tội nữa để Đức Chúa Trời có thể tha thứ cho anh em.” BSB BSB: John the Baptist appeared in the wilderness, preaching a baptism of repentance for the forgiveness of sins.
5 UDB Rất nhiều người từ khu vực Giu-đê và thành Giê-ru-sa-lem đã đi ra hoang mạc để nghe Giăng nói. Nhiều người trong số những người đã nghe ông đồng ý rằng họ đã phạm tội. Rồi Giăng làm báp-têm cho họ dưới sông Giô-đanh. BSB BSB: People went out to him from all of Jerusalem and the countryside of Judea. Confessing their sins, they were baptized by him in the Jordan River.
6 UDB Giăng mặc trang phục thô ráp làm từ lông lạc đà và đeo một dây nịt da ngang hông. Ông ăn châu chấu và mật ong mà ông kiếm được trong vùng hoang mạc đó. BSB BSB: John was clothed in camel’s hair, with a leather belt around his waist. His food was locusts and wild honey.
7 UDB Ông rao giảng rằng: “Chẳng bao lâu nữa một Đấng rất vĩ đại sẽ đến. Tôi chẳng là gì cả khi so sánh với Ngài. Tôi thậm chí không đáng khom người xuống để tháo giày cho Ngài. BSB BSB: And he proclaimed: “After me will come One more powerful than I, the straps of whose sandals I am not worthy to stoop down and untie.
8 UDB Tôi làm báp-têm cho anh em bằng nước, nhưng Ngài sẽ làm báp-têm cho anh em bằng Thánh Linh.” BSB BSB: I baptize you with water, but He will baptize you with the Holy Spirit.”
9 UDB Trong thời gian Giăng rao giảng, Chúa Giê-xu đến từ Na-xa-rét, một thị trấn trong vùng Ga-li-lê. Ngài đến chỗ Giăng đang rao giảng và Giăng đã làm báp-têm cho Ngài dưới sông Giô-đanh. BSB BSB: In those days Jesus came from Nazareth in Galilee and was baptized by John in the Jordan.
10 UDB Ngay sau khi Chúa Giê-xu lên khỏi nước, Ngài thấy trời mở ra và Thánh Linh của Đức Chúa Trời đáp xuống lên Ngài. Thánh Linh của Đức Chúa Trời đến trong hình dạng của chim bồ câu. BSB BSB: As soon as Jesus came up out of the water, He saw the heavens breaking open and the Spirit descending on Him like a dove.
11 UDB Đức Chúa Trời phán xuống từ trời rằng: "Con là Con Trai Ta, là Con được Ta yêu quý. Ta rất hài lòng về con.” BSB BSB: And a voice came from heaven: “You are My beloved Son; in You I am well pleased.”
12 UDB Rồi Thánh Linh của Đức Chúa Trời đưa Chúa Giê-xu ra hoang mạc. BSB BSB: At once the Spirit drove Jesus into the wilderness,
13 UDB Ngài ở đó trong bốn mươi ngày. Trong thời gian đó, quỷ Sa-tan cứ cám dỗ Ngài. Có các thú rừng ở đó, và các thiên sứ thì chăm lo cho Ngài. BSB BSB: and He was there for forty days, being tempted by Satan. He was with the wild animals, and the angels ministered to Him.
15 UDB Ngài nói rằng: "Cuối cùng thì thời điểm đã đến. Chẳng bao lâu nữa Đức Chúa Trời sẽ cho thấy Ngài chính là Vua. Hãy đau buồn về việc anh em đã phạm tội và quyết định đừng phạm tội nữa để Đức Chúa Trời có thể tha thứ cho anh em. Hãy tiếp nhận tin mừng.” BSB BSB: “The time is fulfilled,” He said, “and the kingdom of God is near. Repent and believe in the gospel!”
16 UDB Một ngày nọ, trong lúc Chúa Giê-xu đang đi dọc mé biển Ga-li-lê, Ngài thấy có hai người, đó là Si-môn và người em tên là Anh-rê. Họ đang thả lưới của mình xuống biển. Họ kiếm sống bằng nghề đánh bắt cá. BSB BSB: As Jesus was walking beside the Sea of Galilee, He saw Simon and his brother Andrew. They were casting a net into the sea, for they were fishermen.
17 UDB Chúa Giê-xu bảo họ: “Hãy đi với Thầy, rồi Thầy sẽ dạy cho anh em cách gom nhóm những con người lại, cũng giống như anh em đánh bắt cá vậy." BSB BSB: “Come, follow Me,” Jesus said, “and I will make you fishers of men.”
18 UDB Tức thì, họ bỏ lưới của mình và họ đi theo Ngài. BSB BSB: And at once they left their nets and followed Him.
20 UDB Vừa khi Chúa Giê-xu thấy họ, Ngài bảo họ đi theo Ngài. Vì vậy, họ để cha mình lại trên thuyền với những người phụ việc và đi với Chúa Giê-xu. BSB BSB: Immediately Jesus called them, and they left their father Zebedee in the boat with the hired men and followed Him.
22 UDB Họ kinh ngạc về cách dạy dỗ của Ngài. Ngài dạy như một giáo sư dựa trên những gì chính Ngài biết rõ. Ngài không dạy như những người dạy luật Do Thái, là người chỉ biết lặp lại những điều mà người khác đã từng dạy. BSB BSB: The people were astonished at His teaching, because He taught as one who had authority, and not as the scribes.
23 UDB Trong nhà hội nơi Chúa Giê-xu dạy dỗ có một người bị tà linh điều khiển. Người bị tà linh ám bắt đầu la lên rằng, BSB BSB: Suddenly a man with an unclean spirit cried out in the synagogue:
24 UDB "Này, Giê-xu từ Na-xa-rét kia! Tà linh chúng tôi chẳng liên can gì đến Ngài! Ngài đến để hủy diệt chúng tôi sao? Tôi biết Ngài là ai. Ngài là Đấng Thánh từ Đức Chúa Trời đến!" BSB BSB: “What do You want with us, Jesus of Nazareth? Have You come to destroy us? I know who You are—the Holy One of God!”
25 UDB Chúa Giê-xu quở trách tà linh đó, nói rằng: “Hãy im đi và ra khỏi anh ta!” BSB BSB: But Jesus rebuked the spirit. “Be silent!” He said. “Come out of him!”
26 UDB Tà linh vật mạnh anh ta. Nó hét lên thật to và rồi ra khỏi anh ta và bỏ đi. BSB BSB: At this, the unclean spirit threw the man into convulsions and came out with a loud shriek.
27 UDB Mọi người có mặt ở đó đều kinh ngạc. Vì vậy, họ bàn tán với nhau, nói rằng: “Việc này thật lạ lùng! Ông ấy không chỉ giảng dạy một cách mới mẻ và đầy thẩm quyền, mà còn ra lệnh cho tà linh và chúng phải vâng theo!" BSB BSB: All the people were amazed and began to ask one another, “What is this? A new teaching with authority! He commands even the unclean spirits, and they obey Him!”
28 UDB Chẳng bao lâu sau, những người này đã nói cho rất nhiều người khác ở khắp vùng Ga-li-lê về những việc mà Chúa Giê-xu đã làm. BSB BSB: And the news about Jesus spread quickly through the whole region of Galilee.
30 UDB Mẹ vợ của Si-môn đang nằm trên gường bởi vì bạ bị sốt cao. Lập tức, có người cho Chúa Giê-xu biết về bệnh tình của bà. BSB BSB: Simon’s mother-in-law was sick in bed with a fever, and they promptly told Jesus about her.
31 UDB Chúa Giê-xu đến nơi bà nằm, cầm lấy tay bà rồi đỡ bà dậy. Tức thì bà khỏe lại, không còn sốt nữa và bắt tay vào phục vụ mọi người. BSB BSB: So He went to her, took her by the hand, and helped her up. The fever left her, and she began to serve them.
33 UDB Có vẻ như mọi người sống trong thị trấn đang tụ tập lại ở nơi cửa nhà Si-môn. BSB BSB: and the whole town gathered at the door.
34 UDB Chúa Giê-xu chữa lành nhiều người bị đủ thứ bệnh khác nhau. Ngài cũng đuổi nhiều tà linh ra khỏi người bị ám. Ngài không cho các quỷ nói cho dân chúng biết về Ngài, vì chúng biết Ngài là Đấng Thánh từ Đức Chúa Trời đến. BSB BSB: And He healed many who were ill with various diseases and drove out many demons. But He would not allow the demons to speak, because they knew who He was.
35 UDB Chúa Giê-xu thức dậy từ rất sớm vào sáng hôm sau trong khi trời vẫn còn tối. Ngài ra khỏi nhà và đi xa khỏi thị trấn đến một nơi không có người. Tại đó Ngài cầu nguyện. BSB BSB: Early in the morning, while it was still dark, Jesus got up and went out to a solitary place to pray.
36 UDB Si-môn và các đồng bạn đi tìm Ngài. BSB BSB: Simon and his companions went to look for Him,
37 UDB Khi đã tìm được Ngài họ nói: "Mọi người trong thị trấn đang tìm Thầy.” BSB BSB: and when they found Him, they said, “Everyone is looking for You!”
38 UDB Ngài nói với họ: “Chúng ta cần phải đến các thị trấn quanh đây để Thầy có thể rao giảng tại đó nữa. Đó là lý do Thầy đến đây.” BSB BSB: But Jesus answered, “Let us go on to the neighboring towns so I can preach there as well, for that is why I have come.”
39 UDB Thế là họ đi khắp vùng Ga-li-lê. Trong khi họ đi, Chúa Giê-xu giảng dạy trong các nhà hội và đuổi những tà linh ra khỏi người bị ám. BSB BSB: So He went throughout Galilee, preaching in their synagogues and driving out demons.
41 UDB Chúa Giê-xu cảm thấy thương xót anh. Ngài đưa tay ra chạm vào anh. Rồi Ngài nói với anh: “Vì tôi muốn chữa lành cho anh, nên anh được lành!” BSB BSB: Moved with compassion, Jesus reached out His hand and touched the man. “I am willing,” He said. “Be clean!”
42 UDB Tức thì người đó được lành bệnh! Anh ta không còn là người bị hủi nữa! BSB BSB: And immediately the leprosy left him, and the man was cleansed.
43 UDB Chúa Giê-xu nghiêm khắc căn dặn anh trước khi cho anh đi. BSB BSB: Jesus promptly sent him away with a stern warning:
44 UDB Đây là lời Ngài đã nói với anh: "Đừng cho ai biết chuyện vừa xảy ra. Thay vào đó, hãy đến nơi thầy tế lễ và cho ông ta biết để ông khám cho anh. Sau đó hãy dâng lễ như Môi-se đã truyền với những người được lành bệnh hủi. Đây sẽ là lời chứng cho cộng đồng rằng anh đã được lành.” BSB BSB: “See that you don’t tell anyone. But go, show yourself to the priest and present the offering Moses prescribed for your cleansing, as a testimony to them.”
45 UDB Người kia không vâng theo lời chỉ dạy của Chúa. Anh bắt đầu đi nói cho nhiều người biết thể nào Chúa Giê-xu đã chữa bệnh cho mình. Kết quả là Chúa Giê-xu không thể đi vào các thị trấn một cách công khai nữa vì đám đông sẽ vây lấy Ngài. Thay vào đó, Ngài ở bên ngoài các thị trấn, tại những nơi không có người sinh sống. Nhưng dân chúng từ khắp nơi trong vùng cứ kéo đến nơi Ngài. BSB BSB: But the man went out and openly began to proclaim and spread the news. Consequently, Jesus could no longer enter a town in plain view, but He stayed out in solitary places. Yet people came to Him from every quarter.