1 UDB Sau khi Chúa Giê-xu đã dạy dỗ mười hai môn đồ về những gì họ nên làm, thì Ngài sai phái họ đến những thành khác nhau trong Y-sơ-ra-ên. Rồi Ngài đi đến giảng dạy trong những thành khác thuộc khu vực đó của Y-sơ-ra-ên. BSB BSB: After Jesus had finished instructing His twelve disciples, He went on from there to teach and preach in their cities.
3 UDB để hỏi Ngài rằng: “Có phải Ngài là Chúa Cứu Thế mà các đấng tiên tri đã nói rằng sẽ đến, hay là còn ai khác sẽ đến mà chúng tôi nên chờ đợi?” BSB BSB: to ask Him, “Are You the One who was to come, or should we look for someone else?”
4 UDB Chúa Giê-xu đáp lời các môn đồ của Giăng rằng: “Hãy về và thuật lại cho Giăng những gì anh em đã nghe tôi nói với dân chúng và những điều anh em thấy tôi đang làm. BSB BSB: Jesus replied, “Go back and report to John what you hear and see:
5 UDB Tôi đang làm cho người mù nhìn thấy và người què bước đi. Tôi đang chữa lành cho những người bị phong cùi. Tôi đang làm cho người điếc nghe được và người chết sống lại. Tôi đang nói với người nghèo về tin lành của Đức Chúa Trời. BSB BSB: The blind receive sight, the lame walk, the lepers are cleansed, the deaf hear, the dead are raised, and the good news is preached to the poor.
6 UDB Cũng hãy nói với Giăng rằng Đức Chúa Trời vui lòng với những ai không ngừng tin nơi tôi chỉ bởi vì họ không thích điều tôi đang làm.” BSB BSB: Blessed is the one who does not fall away on account of Me.”
7 UDB Khi các môn đồ của Giăng đã đi khỏi, Chúa Giê-xu bắt đầu nói với dân chúng về Giăng. Ngài nói với họ rằng: “Khi anh em ra ngoài hoang mạc để nhìn thấy Giăng, thì anh em trông chờ điều gì? Anh em không ra đó chỉ để nhìn thấy những cây cỏ cao đang bị cuốn đi trong gió, đúng không? BSB BSB: As John’s disciples were leaving, Jesus began to speak to the crowds about John: “What did you go out into the wilderness to see? A reed swaying in the wind?
8 UDB Vậy, anh em trông chờ nhìn thấy một người như thế nào? Chắc chắn không phải là một người mặc quần áo đắt tiền. Không đâu! Anh em biết rất rõ là người mặc quần áo như thế thì ở trong các cung điện của vua chúa, chớ không phải ở trong hoang mạc. BSB BSB: Otherwise, what did you go out to see? A man dressed in fine clothes? Look, those who wear fine clothing are found in kings’ palaces.
9 UDB Vậy thì, anh em thật sự trông đợi sẽ nhìn thấy một người như thế nào? Có phải một tiên tri không? Đúng vậy! Nhưng tôi nói cho anh em điều này: Giăng không chỉ là một tiên tri bình thường. BSB BSB: What then did you go out to see? A prophet? Yes, I tell you, and more than a prophet.
10 UDB Ông là người mà Đức Chúa Trời đã nói đến khi có người viết trong Kinh Thánh rằng: “Hãy lắng tai nghe! Ta sẽ sai sứ giả của ta đi trước con để chuẩn bị dân này cho việc con đến.” BSB BSB: This is the one about whom it is written: ‘Behold, I will send My messenger ahead of You, who will prepare Your way before You.’
11 UDB Hãy lưu ý rằng: Trong tất cả những người từng sống trên đời, Đức Chúa Trời không coi bất kỳ ai trong số họ lớn hơn Giăng Báp-tít. Nhưng đồng thời, Đức Chúa Trời coi tất cả những người mà Ngài bằng lòng cai trị trên họ là lớn hơn Giăng, ngay cả khi họ là những người nhỏ nhất mà Ngài cai trị. BSB BSB: Truly I tell you, among those born of women there has risen no one greater than John the Baptist. Yet even the least in the kingdom of heaven is greater than he.
12 UDB Từ thời điểm Giăng Báp-tít rao giảng cho đến nay, một số người đã cố gắng nài ép Đức Chúa Trời cai trị như điều họ muốn và họ ra sức ép Ngài cai trị để cho họ có thể hưởng lợi từ đó. BSB BSB: From the days of John the Baptist until now, the kingdom of heaven has been subject to violence, and the violent lay claim to it.
13 UDB Mọi điều mà tôi đang nói về Giăng chỉ là những gì anh em có thể đọc từ những gì mà các tiên tri đã viết và những gì luật pháp đã nói cho đến thời của Giăng Báp-tít. BSB BSB: For all the Prophets and the Law prophesied until John.
15 UDB Nếu anh em muốn hiểu điều này, anh em phải suy nghĩ cẩn thận về những gì tôi vừa mới nói. BSB BSB: He who has ears, let him hear.
16 UDB Nhưng anh em và những người khác đang sống trong hiện tại, anh em giống như những đứa trẻ đang chơi đùa ngoài chợ. Một số đứa trẻ nói với bạn bè của mình rằng: BSB BSB: To what can I compare this generation? They are like children sitting in the marketplaces and calling out to others:
17 UDB ‘Chúng tớ thổi sáo cho các cậu, mà các cậu không chịu nhảy múa! Sau đó, chúng tớ hát những bài hát đưa tang cho các cậu, nhưng các cậu không chịu khóc!’ BSB BSB: ‘We played the flute for you, and you did not dance; we sang a dirge, and you did not mourn.’
18 UDB Tôi nói điều này bởi vì anh em không thỏa lòng cả với Giăng lẫn với tôi! Khi Giăng đến và giảng cho anh em, người không ăn đồ ăn ngon và không uống rượu như đa phần người ta vẫn làm. Nhưng anh em khước từ người, và nói rằng: ‘Ma quỷ đang điều khiển hắn!’ BSB BSB: For John came neither eating nor drinking, and they say, ‘He has a demon!’
19 UDB Còn tôi, là Con Người, không giống như Giăng. Tôi ăn cùng thức ăn và uống cùng thứ rượu như những người khác. Nhưng anh em cũng khước từ tôi và bảo rằng: ‘Coi kìa! Người này ăn nhiều đồ ăn và uống nhiều rượu quá, và hắn còn làm bạn với bọn thu thuế và những tội nhân khác!” Nhưng người thật sự khôn ngoan sẽ bày tỏ điều đó ra bởi những công việc lành mình làm.” BSB BSB: The Son of Man came eating and drinking, and they say, ‘Look at this glutton and drunkard, a friend of tax collectors and sinners!’ But wisdom is vindicated by her actions.”
20 UDB Những người sống ở các thành trong vùng, là nơi Chúa Giê-xu ở, nhìn thấy Ngài thi hành nhiều phép lạ. Nhưng họ không từ bỏ hành vi tội lỗi của mình. Vì thế, Chúa Giê-xu bắt đầu khiển trách họ bằng cách nói với họ rằng: BSB BSB: Then Jesus began to denounce the cities in which most of His miracles had been performed, because they did not repent.
22 UDB Để tôi nói với anh em điều này: Đức Chúa Trời sẽ hình phạt dân gian ác, là dân đã sống trong thành Ty-rơ và Si-đôn, nhưng trong ngày cuối cùng, khi Ngài xét đoán tất cả các dân, Ngài sẽ hình phạt anh em thậm chí còn nặng nề hơn. BSB BSB: But I tell you, it will be more bearable for Tyre and Sidon on the day of judgment than for you.
23 UDB Tôi cũng có đôi điều muốn nói với anh em, là người sống trong thành Ca-bê-na-um. Có phải anh em cho rằng người khác sẽ khen ngợi anh em nhiều đến nỗi anh em sẽ đi thẳng lên thiên đàng không? Điều đó sẽ không xảy ra đâu! Trái lại, anh em sẽ đi xuống nơi mà Đức Chúa Trời sẽ hình phạt người ta sau khi họ chết! Nếu tôi đã làm những phép lạ y như vậy tại Sô-đôm xưa kia, thì dân gian ác đó chắc chắn đã ngừng phạm tội và thành của họ chắn sẽ còn lại thậm chí cho đến ngày nay. Nhưng anh em lại không ngừng phạm tội. BSB BSB: And you, Capernaum, will you be lifted up to heaven? No, you will be brought down to Hades! For if the miracles that were performed in you had been performed in Sodom, it would have remained to this day.
24 UDB Để tôi nói cho anh em điều này: Đức Chúa Trời sẽ hình phạt dân gian ác sống tại Sô-đôm, nhưng trong ngày cuối cùng, khi Ngài xét đoán hết thảy người ta, thì Ngài sẽ hình phạt anh em thậm chí còn nặng nề hơn.” BSB BSB: But I tell you that it will be more bearable for Sodom on the day of judgment than for you.”
25 UDB Lúc đó, Chúa Giê-xu cầu nguyện rằng: “Cha ơi, Ngài cai trị muôn vật trên thiên đàng và ở dưới đất. Con cảm tạ Cha vì Ngài đã ngăn trở những kẻ cho rằng họ là khôn ngoan và có học thức, khiến họ chẳng hiểu biết những điều này. Thay vào đó, Ngài đã bày tỏ chúng cho những người tiếp nhận lẽ thật của Ngài như những con trẻ tin nơi những gì người lớn nói với chúng. BSB BSB: At that time Jesus declared, “I praise You, Father, Lord of heaven and earth, because You have hidden these things from the wise and learned, and revealed them to little children.
26 UDB Phải, thưa Cha, Ngài đã làm điều đó bởi vì Ngài thấy điều đó là tốt.” BSB BSB: Yes, Father, for this was well-pleasing in Your sight.
27 UDB Sau đó, Chúa Giê-xu nói với dân chúng rằng: “Đức Chúa Trời, là Cha của tôi, đã bày tỏ cho tôi mọi điều mà tôi cần biết để làm công việc của tôi. Chỉ có Cha tôi mới biết tôi thật sự là ai. Hơn nữa, chỉ có tôi và những người mà tôi muốn bày tỏ Cha cho mới thật sự biết Ngài. BSB BSB: All things have been entrusted to Me by My Father. No one knows the Son except the Father, and no one knows the Father except the Son and those to whom the Son chooses to reveal Him.
28 UDB Hết thảy những ai hết sức mệt mỏi vì cố gắng vâng theo mọi luật lệ mà những lãnh đạo tôn giáo bảo anh em nên giữ, hãy đến cùng tôi. Tôi sẽ cho anh em được nghỉ ngơi khỏi hết thảy mọi điều đó. BSB BSB: Come to Me, all you who are weary and burdened, and I will give you rest.
29 UDB Hãy đầu phục tôi, giống như một con bò mang lấy ách của nó và học những gì tôi đã dạy dỗ anh em. Tôi hiền hòa và khiêm nhường, nên anh em sẽ thật sự được nghỉ ngơi. BSB BSB: Take My yoke upon you and learn from Me, for I am gentle and humble in heart, and you will find rest for your souls.
30 UDB Vì gánh nặng mà tôi sẽ cho anh em là nhẹ nhàng, nên anh em sẽ dễ dàng mang lấy nó.” BSB BSB: For My yoke is easy and My burden is light.”