1 UDB Sáng sớm hôm sau, tất cả các thầy tế lễ cả và các lãnh đạo Do Thái quyết định làm thế nào để thuyết phục người La-mã tử hình Chúa Giê-xu. BSB BSB: When morning came, all the chief priests and elders of the people conspired against Jesus to put Him to death.
4 UDB Hắn nói: “Tôi đã phạm tội. Tôi đã phản bội một người vô tội.” Họ trả lời hắn: “Điều đó chẳng có ý nghĩa gì với chúng ta hết! Đó là việc của ngươi!” BSB BSB: “I have sinned by betraying innocent blood,” he said. “What is that to us?” they replied. “You bear the responsibility.”
6 UDB Sau đó, các thầy tế lễ cả tìm thấy những đồng bạc đó. Họ nhặt nó lên và nói: “Đây là món tiền mà chúng ta đã trả cho một người để hắn phải chết và luật pháp của chúng ta không cho phép chúng ta đem tiền như vậy vào kho của đền thờ.” BSB BSB: The chief priests picked up the pieces of silver and said, “It is unlawful to put this into the treasury, since it is blood money.”
7 UDB Thế là họ quyết định sử dụng số tiền đó để mua một cánh đồng được gọi là Cánh Đồng Thợ Gốm. Họ dùng cánh đồng đó làm nơi chôn cất những khách lạ chết tại Giê-ru-sa-lem. BSB BSB: After conferring together, they used the money to buy the potter’s field as a burial place for foreigners.
8 UDB Đó là lý do tại sao chỗ đó ngày nay vẫn được gọi là “Cánh đồng huyết.” BSB BSB: That is why it has been called the Field of Blood to this day.
9 UDB Bởi việc mua cánh đồng đó, họ đã làm cho những lời mà tiên tri Giê-rê-mi đã nói từ xưa trở thành hiện thực: “Họ lấy ba mươi đồng bạc– đó là những gì các lãnh đạo Y-sơ-ra-ên quyết định giá trị của Ngài– BSB BSB: Then what was spoken through Jeremiah the prophet was fulfilled: “They took the thirty pieces of silver, the price set on Him by the people of Israel,
10 UDB và với số tiền đó, họ đã mua cánh đồng của người thợ gốm. Họ đã làm như Chúa đã truyền cho ta.” BSB BSB: and they gave them for the potter’s field, as the Lord had commanded me.”
11 UDB Sau đó, Chúa Giê-xu đứng trước mặt quan tổng đốc. Quan tổng đốc hỏi Ngài: “Ngươi nói mình là vua của dân Giu-đa phải không?” Chúa Giê-xu đáp rằng: “Phải, thật như ông vừa mới nói.” BSB BSB: Meanwhile Jesus stood before the governor, who questioned Him: “Are You the King of the Jews?” “You have said so,” Jesus replied.
12 UDB Nhưng khi các thầy tế lễ cả và các trưởng lão kết án Ngài vì làm nhiều điều sai trái khác thì Ngài không đáp lời. BSB BSB: And when He was accused by the chief priests and elders, He gave no answer.
13 UDB Thế là Phi-lát nói với Ngài: “Ngươi có nghe rất nhiều điều mà họ đang kết án ngươi, ngươi sẽ không trả lời sao?” BSB BSB: Then Pilate asked Him, “Do You not hear how many charges they are bringing against You?”
14 UDB Nhưng Chúa Giê-xu không nói bất cứ điều gì. Ngài đã không đáp lời bất kỳ điều gì mà họ đang cáo buộc Ngài. Kết quả là quan tổng đốc rất đỗi ngạc nhiên. BSB BSB: But Jesus gave no answer, not even to a single charge, much to the governor’s amazement.
15 UDB Lúc đó, theo thông lệ của quan tổng đốc, hàng năm, trong dịp Lễ Vượt Qua, một tù nhân sẽ được tha. Ông tha bất kỳ tù nhân nào mà dân chúng muốn. BSB BSB: Now it was the governor’s custom at the feast to release to the crowd a prisoner of their choosing.
16 UDB Lúc đó, tại Giê-ru-sa-lem có một tù nhân nổi tiếng có tên là Ba-ra-ba. BSB BSB: At that time they were holding a notorious prisoner named Barabbas.
17 UDB Vì thế, khi đám đông tập họp lại, Phi-lát hỏi họ: “Các ngươi muốn ta thả tù nhân nào cho các ngươi: Ba-ra-ba hay là Giê-xu, người mà họ gọi là Chúa Cứu Thế?” BSB BSB: So when the crowd had assembled, Pilate asked them, “Which one do you want me to release to you: Barabbas, or Jesus who is called Christ?”
18 UDB Ông hỏi họ câu hỏi đó bởi vì ông nhận ra rằng các thầy tế lễ cả đã đem Chúa Giê-xu đến chỗ ông chỉ bởi vì họ ghen tị với Ngài. Và Phi-lát cho rằng dân chúng sẽ thích ông thả Chúa Giê-xu hơn. BSB BSB: For he knew it was out of envy that they had handed Jesus over to him.
19 UDB Trong khi Phi-lát đang ngồi trên tòa án, vợ ông sai người nhắn với ông rằng: “Sáng sớm hôm nay, tôi đã gặp ác mộng bởi cớ người đó. Vì vậy, đừng kết án người công bình đó!” BSB BSB: While Pilate was sitting on the judgment seat, his wife sent him this message: “Have nothing to do with that innocent man, for I have suffered terribly in a dream today because of Him.”
20 UDB Nhưng các thầy tế lễ cả và các trưởng lão đã thuyết phục đám đông xin Phi-lát hãy thả Ba-ra-ba và truyền lệnh xử tử Chúa Giê-xu. BSB BSB: But the chief priests and elders persuaded the crowds to ask for Barabbas and to have Jesus put to death.
21 UDB Vì vậy, khi quan tổng đốc hỏi họ: “Các ngươi muốn ta tha ai trong số hai người này cho các ngươi?” thì họ đáp: “Là Ba-ra-ba!” BSB BSB: “Which of the two do you want me to release to you?” asked the governor. “Barabbas,” they replied.
22 UDB Phi-lát rất đỗi kinh ngạc, nên ông hỏi: “Vậy, ta nên làm gì với Giê-xu mà một số người trong các ngươi nói là Chúa Cứu Thế này?” Tất cả họ liền đáp: “Xin truyền cho binh lính đóng đinh hắn!” BSB BSB: “What then should I do with Jesus who is called Christ?” Pilate asked. They all answered, “Crucify Him!”
23 UDB Phi-lát đáp rằng: “Tại sao? Hắn đã phạm tội ác nào?” Nhưng họ thậm chí còn la lớn hơn nữa rằng: “Hãy cho đóng đinh hắn!” BSB BSB: “Why?” asked Pilate. “What evil has He done?” But they shouted all the louder, “Crucify Him!”
24 UDB Phi-lát nhận ra rằng ông chẳng làm gì được. thay vào đó, ông thấy rằng dân chúng sắp sửa nổi loạn. Thế nên, ông đem một chậu nước ra và rửa tay trong khi dân chúng đang nhìn xem. Ông nói: “Bởi việc rửa tay, ta chứng tỏ cho các ngươi thấy rằng nếu người này chết, thì đó là lỗi của các ngươi, không phải lỗi của ta!” BSB BSB: When Pilate saw that he was accomplishing nothing, but that instead a riot was breaking out, he took water and washed his hands before the crowd. “I am innocent of this man’s blood,” he said. “You bear the responsibility.”
26 UDB Lúc đó, ông truyền lệnh cho binh lính thả Ba-ra-ba ra cho họ, Nhưng ông cũng truyền cho binh lính đánh roi Chúa Giê-xu. Sau đó, ông giao Chúa Giê-xu cho binh lính để họ đóng đinh Ngài trên cây thập tự. BSB BSB: So Pilate released Barabbas to them. But he had Jesus flogged, and handed Him over to be crucified.
27 UDB Khi đó, binh lính của quan tổng đốc dẫn Chúa Giê-xu vào trong doanh trại của họ. Tất cả binh lính đều tập họp xung quanh Ngài. BSB BSB: Then the governor’s soldiers took Jesus into the Praetorium and gathered the whole company around Him.
28 UDB Họ cởi áo Ngài ra rồi giả bộ cho Ngài là một vị vua, họ mặc cho Ngài một cái áo dài màu đỏ chói. BSB BSB: They stripped Him and put a scarlet robe on Him.
29 UDB Họ lấy vài nhành gai và đan chúng lại để làm thành một vương miện và đặt trên đầu Ngài. Họ đặt vào tay phải Ngài một cây sậy, giống như một quyền trượng mà một vị vua thường cầm. Rồi họ quỳ xuống trước mặt Ngài và giễu cợt Ngài nói rằng: “Vua Giu-đa bình an!” BSB BSB: And they twisted together a crown of thorns and set it on His head. They put a staff in His right hand, knelt down before Him, and mocked Him, saying, “Hail, King of the Jews!”
30 UDB Họ tiếp tục nhổ vào Ngài. Họ liên tục lấy gậy đánh vào đầu Ngài. BSB BSB: Then they spit on Him and took the staff and struck Him on the head repeatedly.
31 UDB Khi họ giễu cợt Ngài xong, họ cởi áo dài ra, mặc lại quần áo của Ngài vào. Rồi họ dẫn Ngài đi đến chỗ mà họ sẽ đóng đinh Ngài trên cây thập tự. BSB BSB: After they had mocked Him, they removed the robe and put His own clothes back on Him. Then they led Him away to crucify Him.
32 UDB Sau khi Chúa Giê-xu vác thập tự giá của mình đi được một quãng ngắn, các binh lính nhìn thấy một người tên là Si-môn, từ thành Sy-ren đến. Họ buộc anh ta vác cây thập tự cho Chúa Giê-xu. BSB BSB: Along the way they found a man from Cyrene, named Simon, and they forced him to carry the cross of Jesus.
33 UDB Họ đi đến một chỗ gọi là Gô-gô-tha. Tên đó có nghĩa là “chỗ giống như một cái sọ.” BSB BSB: And when they came to a place called Golgotha, which means The Place of the Skull,
34 UDB Khi đến đó, họ pha rượu với một chất có vị rất đắng. Họ đưa nó cho Chúa Giê-xu uống để Ngài sẽ không cảm thấy đau đớn nhiều khi họ đóng đinh Ngài trên thập tự giá. Nhưng khi Ngài nếm, thì Ngài không chịu uống. Một số tên lính cởi đồ của Ngài ra. BSB BSB: they offered Him wine to drink, mixed with gall; but after tasting it, He refused to drink it.
35 UDB Sau đó, họ đóng đinh Ngài trên thập tự giá. Sau đó, họ chia nhau quần áo của Ngài bằng cách chơi một trò chơi giống như súc sắc để quyết định xem ai sẽ lấy phần vải nào. BSB BSB: When they had crucified Him, they divided up His garments by casting lots.
36 UDB Khi đó các binh lính ngồi xuống để canh giữ Ngài, ngăn không cho bất kỳ ai cố gắng giải cứu Ngài. BSB BSB: And sitting down, they kept watch over Him there.
37 UDB Phía trên đầu Chúa Giê-xu, họ đóng vào cây thập tự một tấm bảng, trên đó viết lý do tại sao họ đóng đinh Ngài trên cây thập tự. Nhưng tấm bảng đó chỉ ghi: ‘Đây là Giê-xu, Vua dân Giu-đa.’ BSB BSB: Above His head they posted the written charge against Him: THIS IS JESUS, THE KING OF THE JEWS.
38 UDB Họ cũng đóng đinh hai tên cướp trên hai cây thập tự. Họ đặt một tên trên cây thập tự bên phải của Chúa Giê-xu, và tên kia trên cây thập tự bên trái. BSB BSB: Two robbers were crucified with Him, one on His right and the other on His left.
39 UDB Dân chúng đi ngang qua đều sỉ nhục Chúa Giê-xu bằng cách lắc đầu như thể Ngài là một kẻ gian ác. BSB BSB: And those who passed by heaped abuse on Him, shaking their heads
40 UDB Họ nói: “Ngươi nói rằng mình sẽ phá hủy đền thờ, rồi sau đó xây dựng nó lại trong vòng ba ngày! Vậy, nếu ngươi có thể làm điều đó, thì ngươi lẽ ra có thể tự cứu mình rồi! Nếu ngươi thật là Con Đức Chúa Trời, hãy xuống khỏi cây thập tự đi!” BSB BSB: and saying, “You who are going to destroy the temple and rebuild it in three days, save Yourself! If You are the Son of God, come down from the cross!”
41 UDB Tương tự như vậy, các thầy tế lễ cả, những người dạy luật Do Thái và các trưởng lão đều chế giễu Ngài. Họ nói những điều như là: BSB BSB: In the same way, the chief priests, scribes, and elders mocked Him, saying,
42 UDB “Hắn tuyên bố rằng mình cứu người khác khỏi bệnh tật nhưng lại không thể tự giúp mình!” “Hắn bảo rằng mình là Vua Y-sơ-ra-ên. Vì thế, hắn nên xuống khỏi thập tự giá. Lúc đó, chúng ta sẽ tin hắn!” BSB BSB: “He saved others, but He cannot save Himself. He is the King of Israel! Let Him come down now from the cross, and we will believe in Him.
43 UDB “Hắn nói rằng hắn tin cậy Đức Chúa Trời và rằng hắn cũng là Đức Chúa Trời. Vì thế, nếu Đức Chúa Trời vui lòng về hắn, lẽ ra Ngài nên cứu hắn ngay bây giờ!” BSB BSB: He trusts in God. Let God deliver Him now if He wants Him. For He said, ‘I am the Son of God.’”
44 UDB Và hai cướp ở trên hai cây thập tự giá chung với Ngài cũng mắng nhiếc Ngài bằng cách nói những điều giống như vậy. BSB BSB: In the same way, even the robbers who were crucified with Him berated Him.
45 UDB Vào giờ trưa, cả xứ trở nên tối tăm. Trời đất tối tăm như vậy cho đến ba giờ chiều. BSB BSB: From the sixth hour until the ninth hour darkness came over all the land.
46 UDB Khoảng ba giờ chiều, Chúa Giê-xu la lớn tiếng rằng: “Ê-li, Ê-li, la-ma-sa-bách-tha-ni?” Câu đó có nghĩa là “Đức Chúa Trời của con ơi, Đức Chúa Trời của con ơi, sao Ngài bỏ mặc con?” BSB BSB: About the ninth hour Jesus cried out in a loud voice, “Eli, Eli, lema sabachthani?” which means, “My God, My God, why have You forsaken Me?” 47 UDB Khi một số người đứng đó nghe từ “Ê-li,” thì họ nghĩ rằng Ngài đang gọi tiên tri Ê-li. BSB BSB: When some of those standing there heard this, they said, “He is calling Elijah.”
48 UDB Lập tức, một người trong số họ chạy đi lấy một miếng bọt biển, Anh ta nhúng nó vào giấm, rồi đặt miếng bọt biển vào đầu một cây sậy và đưa nó lên để Chúa Giê-xu có thể mút lấy nước giấm ở trong đó. BSB BSB: One of them quickly ran and brought a sponge. He filled it with sour wine, put it on a reed, and held it up for Jesus to drink.
49 UDB Nhưng những người khác ở đó thì nói: “Khoan đã! Chúng ta hãy chờ xem coi Ê-li có đến cứu hắn hay không!” BSB BSB: But the others said, “Leave Him alone. Let us see if Elijah comes to save Him.”
52 UDB Một số ngôi mộ mở ra và thân thể của nhiều người tôn kính Đức Chúa Trời đã sống lại. BSB BSB: The tombs broke open, and the bodies of many saints who had fallen asleep were raised.
53 UDB Họ đi ra khỏi mộ và sau khi Chúa Giê-xu sống lại, họ đi vào thành Giê-ru-sa-lem và hiện ra cho nhiều người ở đó. BSB BSB: After Jesus’ resurrection, when they had come out of the tombs, they entered the holy city and appeared to many people.
54 UDB Viên quan giám sát các binh lính đóng đinh Chúa Giê-xu lên thập tự giá đang đứng gần đó. Các binh lính đang canh giữ các cây thập tự cũng ở đó. Khi họ cảm nhận đất rung chuyển và nhìn thấy tất cả những việc khác xảy ra, họ rất kinh khiếp. Họ thốt lên: “Thật, người này là Con Đức Chúa Trời!” BSB BSB: When the centurion and those with him who were guarding Jesus saw the earthquake and all that had happened, they were terrified and said, “Truly this was the Son of God.”
55 UDB Nhiều người phụ nữ đã ở đó theo dõi từ xa. Họ là những phụ nữ đã đồng hành với Chúa Giê-xu từ Ga-li-lê để chu cấp cho Ngài những gì Ngài cần. BSB BSB: And many women were there, watching from a distance. They had followed Jesus from Galilee to minister to Him.
56 UDB Trong số họ có Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri khác, là mẹ của Gia-cơ và Giô-sép và mẹ của Gia-cơ và Giăng. BSB BSB: Among them were Mary Magdalene, Mary the mother of James and Joseph, and the mother of Zebedee’s sons.
57 UDB Khi trời gần tối hẳn, một người giàu có tên là Giô-sép đã đến đó. Ông đến từ làng A-ri-ma-thê. Ông cũng là một môn đồ của Chúa Giê-xu. BSB BSB: When it was evening, there came a rich man from Arimathea named Joseph, who himself was a disciple of Jesus.
58 UDB Ông đến gặp Phi-lát và xin Phi-lát cho phép ông đem chôn xác Chúa Giê-xu. Phi-lát truyền cho binh lính cho phép ông đem xác Ngài đi. BSB BSB: He went to Pilate to ask for the body of Jesus, and Pilate ordered that it be given to him.
59 UDB Vì thế, Giô-sép lấy xác và quấn trong một miếng vải trắng tinh. BSB BSB: So Joseph took the body, wrapped it in a clean linen cloth,
60 UDB Sau đó, họ đặt xác Chúa Giê-xu vào trong ngôi mộ mới của Giô-sép mà những người thợ đã đẽo ra từ một vách đá. Họ lăn một tảng đá tròn thật lớn phía trước lối vào ngôi mộ. Rồi họ rời khỏi đó. BSB BSB: and placed it in his own new tomb that he had cut into the rock. Then he rolled a great stone across the entrance to the tomb and went away.
61 UDB Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri khác đang ngồi đối diện ngôi mộ để canh giữ. BSB BSB: Mary Magdalene and the other Mary were sitting there opposite the tomb.
62 UDB Ngày hôm sau là ngày thứ bảy, ngày nghỉ của người Do Thái. Các thầy tế lễ cả và một số người Pha-ri-si đến gặp Phi-lát. BSB BSB: The next day, the one after Preparation Day, the chief priests and Pharisees assembled before Pilate.
63 UDB Họ thưa rằng: “Thưa quan, chúng tôi nhớ rằng khi tên lừa gạt này vẫn còn sống, thì hắn có nói: ‘Ba ngày sau khi ta chết, ta sẽ sống lại.’ BSB BSB: “Sir,” they said, “we remember that while He was alive that deceiver said, ‘After three days I will rise again.’
64 UDB Vì thế, chúng tôi xin quan ra lệnh cho binh lính canh giữ ngôi mộ trong ba ngày. Nếu không làm như vậy, các môn đồ của hắn có thể đến và ăn cắp cái xác. Rồi họ sẽ nói với dân chúng rằng hắn đã sống lại từ kẻ chết. Nếu họ lừa dối dân chúng bằng cách nói như vậy, thì nó sẽ còn tồi tệ hơn cách mà hắn đã lừa dối dân chúng trước đó bằng cách nói rằng hắn là Chúa Cứu Thế.” BSB BSB: So give the order that the tomb be secured until the third day. Otherwise, His disciples may come and steal Him away and tell the people He has risen from the dead. And this last deception would be worse than the first.”
65 UDB Phi-lát đáp lời họ rằng: “Các ông có thể đem theo một vài binh lính. Hãy đi đến mộ và canh phòng cẩn mật theo cách của các ông.” BSB BSB: “You have a guard,” Pilate said. “Go, make the tomb as secure as you know how.”
66 UDB Vậy, họ đi và canh giữ ngôi mộ cách cẩn thận bằng cách buộc một dây thừng từ hòn đá nằm phía trước lối vào ngôi mộ với vách đá hai bên và niêm phong nó. Họ cũng để lại vài tên lính ở đó để canh chừng ngôi mộ. BSB BSB: So they went and secured the tomb by sealing the stone and posting the guard.