1 UDB Anh em biết rõ chúng tôi, và anh em phải tin chúng tôi. Một người xa lạ có thể cần ai đó mà anh em quen biết viết thư giới thiệu họ cho anh em, nhưng anh em đã biết chúng tôi rất rõ rồi. BSB BSB: Are we beginning to commend ourselves again? Or do we need, like some people, letters of recommendation to you or from you?
2 UDB Chính anh em giống như một bức thư giới thiệu chúng tôi cho người khác, vì mọi người biết anh em đều có thể thấy anh em tin cậy chúng tôi đến mức nào. BSB BSB: You yourselves are our letter, inscribed on our hearts, known and read by everyone.
3 UDB Cách anh em sống giống như một bức thư mà chính Chúa Cứu Thế đã viết và được chúng tôi mang đến cho anh em. Dĩ nhiên đó không phải là một bức thư bằng mực viết trên bảng đá, mà là bức thư Thánh Linh của Đức Chúa Trời chân thật đã viết trên chính tấm lòng của anh em. BSB BSB: It is clear that you are a letter from Christ, the result of our ministry, written not with ink but with the Spirit of the living God, not on tablets of stone but on tablets of human hearts.
4 UDB Chúng tôi tin cậy Đức Chúa Trời như vậy, vì chúng tôi được liên kết với Chúa Cứu Thế. BSB BSB: Such confidence before God is ours through Christ.
5 UDB Bằng sức riêng của mình, chúng tôi không thể làm bất cứ điều gì cho Đức Chúa Trời, cho nên chúng tôi không thể tự nhận mình có thể làm như vậy. Thay vào đó, chính Đức Chúa Trời ban cho chúng tôi mọi điều chúng tôi cần để phục vụ Ngài. BSB BSB: Not that we are competent in ourselves to claim that anything comes from us, but our competence comes from God.
6 UDB Đức Chúa Trời đã ban cho chúng tôi điều chúng tôi cần để làm người phục vụ giao ước mới. Sức mạnh của giao ước này không nhờ vào lời được viết ra, mà là nhờ Thánh Linh của Đức Chúa Trời, Đấng khiến chúng tôi sống trong mối liên kết với Chúa Cứu Thế. Những mạng lệnh thành văn chẳng làm được gì mà chỉ khiến người ta chết. BSB BSB: And He has qualified us as ministers of a new covenant, not of the letter but of the Spirit; for the letter kills, but the Spirit gives life.
7 UDB Luật Pháp của Đức Chúa Trời khiến người ta chết đó, tức luật pháp mà Ngài viết trên bảng đá, đã được ban cho Môi-se với ánh sáng luôn chói lòa khi có Đức Chúa Trời hiện diện. Mặt của Môi-se sáng lòa thứ ánh sáng đó đến nỗi dân Y-sơ-ra-ên không thể nhìn vào mặt ông. Tuy nhiên, ánh sáng chói lòa đó cũng dần dần biến mất đi. BSB BSB: Now if the ministry of death, which was engraved in letters on stone, came with such glory that the Israelites could not gaze at the face of Moses because of its fleeting glory,
8 UDB Vậy, điều Đức Thánh Linh làm hẳn phải có thứ ánh sáng thậm chí còn chói lòa hơn. BSB BSB: will not the ministry of the Spirit be even more glorious?
9 UDB Ngay cả Luật Pháp cũng chiếu ra ánh sáng của Đức Chúa Trời. Nhưng Luật Pháp đó cuối cùng chỉ có thể giết chết người ta. Cho nên khi Đức Chúa Trời làm cho chúng ta được hòa thuận với Ngài, thì việc làm này thậm chí sẽ còn kỳ diệu hơn nhiều. BSB BSB: For if the ministry of condemnation was glorious, how much more glorious is the ministry of righteousness!
10 UDB Đến nỗi, khi đem so sánh với việc Đức Chúa Trời làm để khiến chúng ta hòa thuận với Ngài, thì dường như thể Luật Pháp chẳng là gì cả— giống như mặt trăng lúc ở cạnh mặt trời vậy. BSB BSB: Indeed, what was once glorious has no glory now in comparison to the glory that surpasses it.
11 UDB Cho nên anh em có thể thấy rằng Luật Pháp, vốn sẽ qua đi, có kỳ diệu đó, nhưng điều đang thay thế nó thậm chí còn kỳ diệu hơn, vì điều này sẽ mãi trường tồn. BSB BSB: For if what was fading away came with glory, how much greater is the glory of that which endures!
12 UDB Vì các sứ đồ chúng tôi tin cậy Đức Chúa Trời về tương lai, nên chúng tôi có sự dạn dĩ rất lớn. BSB BSB: Therefore, since we have such a hope, we are very bold.
13 UDB Chúng tôi không giống như Môi-se, ông phải lấy mạng che mặt lại để con dân Y-sơ-ra-ên không phải nhìn vào ánh sáng từ Đức Chúa Trời đang dần biến mất đó. BSB BSB: We are not like Moses, who would put a veil over his face to keep the Israelites from gazing at the end of what was fading away.
14 UDB Xưa kia, dân Y-sơ-ra-ên đã không chịu tin sứ điệp của Đức Chúa Trời. Thậm chí ngày nay, khi Luật Pháp cũ được đọc lên, thì họ phủ lên mình mạng che đó. Chỉ khi chúng chúng ta kết hiệp với Chúa Cứu Thế thì Đức Chúa Trời mới dỡ bỏ mạng che ấy đi. BSB BSB: But their minds were closed. For to this day the same veil remains at the reading of the old covenant. It has not been lifted, because only in Christ can it be removed.
15 UDB Thật vậy, ngay cả ngày nay, mỗi khi họ đọc Luật Pháp Môi-se, thì dường như thể tâm trí họ bị một tấm mạng che phủ lên. BSB BSB: And even to this day when Moses is read, a veil covers their hearts.
16 UDB Nhưng người nào quay về với Chúa, thì Đức Chúa Trời sẽ dỡ bỏ mạng che đó đi. BSB BSB: But whenever anyone turns to the Lord, the veil is taken away.
17 UDB Từ “Chúa” ở đây chỉ về “Đức Thánh Linh.” Nơi nào có Thánh Linh của Chúa, thì ở đó người ta được tự do. BSB BSB: Now the Lord is the Spirit, and where the Spirit of the Lord is, there is freedom.
18 UDB Nhưng đối với tất cả chúng ta, là người đã tin, thì chúng ta nhìn thấy Chúa, Đấng chiếu ra ánh sáng từ Đức Chúa Trời, và chúng ta nhìn xem mặt trần của Ngài. Đức Chúa Trời đang biến đổi chúng ta để ngày càng trở nên tuyệt diệu hơn giống như Ngài. Đây là việc mà Chúa, tức Đức Thánh Linh, thực hiện. BSB BSB: And we, who with unveiled faces all reflect the glory of the Lord, are being transformed into His image with intensifying glory, which comes from the Lord, who is the Spirit.
Select verses for actions: Enter goes to them and Escape comes back.