1 UDB Thưa các anh em tín hữu của tôi, Đức Chúa Trời đã biệt riêng anh em và chọn anh em được thuộc về Ngài. Vậy, hãy suy nghĩ về Chúa Giê-xu. Ngài là sứ đồ của Đức Chúa Trời cho chúng ta và cũng là thầy tế lễ thượng phẩm mà chúng ta nói rằng chúng ta cùng nhau tin nơi Ngài. BSB BSB: Therefore, holy brothers, who share in the heavenly calling, set your focus on Jesus, the apostle and high priest whom we confess.
2 UDB Ngài đã trung tín hầu việc Đức Chúa Trời, là Đấng đã chỉ định Ngài, cũng như Môi-se đã trung tín hầu việc toàn dân của Đức Chúa Trời, là dân mà chúng ta gọi là nhà của Đức Chúa Trời. BSB BSB: He was faithful to the One who appointed Him, just as Moses was faithful in all God’s house.
3 UDB Vậy, như mọi ngôi nhà đều do một người nào đó xây nên, Đức Chúa Trời đã tạo dựng muôn vật. Cho nên, Đức Chúa Trời thấy rằng Chúa Giê-xu xứng đáng được con người tôn kính hơn Môi-se, cũng như người xây nhà xứng đáng được người ta tôn kính hơn là ngôi nhà. BSB BSB: For Jesus has been counted worthy of greater glory than Moses, just as the builder of a house has greater honor than the house itself.
5 UDB Môi-se đã rất trung tín hầu việc Đức Chúa Trời khi ông giúp đỡ dân sự Ngài, như một đầy tớ trung tín phục vụ chủ mình. Do đó, Môi-se chứng thực những điều Chúa Giê-xu sẽ phán sau này. BSB BSB: Now Moses was faithful as a servant in all God’s house, testifying to what would be spoken later.
6 UDB Nhưng Chúa Cứu Thế là Con, Đấng cai trị dân sự của Đức Chúa Trời, và chúng ta là dân Ngài cai trị nếu chúng ta tiếp tục can đảm tin nơi Chúa Cứu Thế và trông đợi với lòng tin quyết rằng Đức Chúa Trời sẽ thực hiện mọi điều Ngài đã hứa với chúng ta. BSB BSB: But Christ is faithful as the Son over God’s house. And we are His house, if we hold firmly to our confidence and the hope of which we boast.
7 UDB Đức Thánh Linh đã khiến cho trước giả Thi Thiên viết ra những lời này cho dân Y-sơ-ra-ên trong Kinh Thánh: “Vậy, khi các ngươi nghe tiếng Đức Chúa Trời phán cùng mình, BSB BSB: Therefore, as the Holy Spirit says: “Today, if you hear His voice,
8 UDB thì đừng ngoan cố mà không vâng lời Ngài, như tổ phụ các ngươi đã làm khi họ phản loạn chống nghịch Ngài trong hoang mạc. BSB BSB: do not harden your hearts, as you did in the rebellion, in the day of testing in the wilderness,
9 UDB Tổ phụ các ngươi đã nhiều lần thử ta, để xem ta có kiên nhẫn với họ không, mặc dù trong bốn mươi năm họ đã thấy mọi điều lạ lùng mà ta đã làm. BSB BSB: where your fathers tested and tried Me, and for forty years saw My works.
10 UDB Vậy nên ta gớm ghiếc dân đó, và ta đã nói về họ rằng, “Họ chẳng bao giờ trung tín với ta, và chẳng hiểu được ta muốn họ sống như thế nào.” BSB BSB: Therefore I was angry with that generation, and I said, ‘Their hearts are always going astray, and they have not known My ways.’
11 UDB Ta đã nổi giận cùng họ và chính thức tuyên phán rằng, ‘Họ sẽ không vào xứ Ca-na-an là nơi ta sẽ cho họ an nghỉ!’” BSB BSB: So I swore on oath in My anger, ‘They shall never enter My rest.’”
12 UDB Vậy, thưa anh em tín hữu, xin hãy cẩn trọng để không ai trong anh em ngừng tin cậy vào Chúa Cứu Thế vì cớ sự gian ác trong tấm lòng anh em, là điều sẽ khiến anh em chối bỏ Đức Chúa Trời duy nhất, là Đấng thật sống. BSB BSB: See to it, brothers, that none of you has a wicked heart of unbelief that turns away from the living God.
13 UDB Thay vào đó, trong lúc còn có cơ hội, mỗi người trong anh em phải khích lệ nhau mỗi ngày. Nếu anh em ngoan cố, những kẻ khác sẽ lừa dối anh em và dẫn anh em đến chỗ phạm tội. BSB BSB: But exhort one another daily, as long as it is called today, so that none of you may be hardened by sin’s deceitfulness.
14 UDB Giờ đây chúng ta được kết hợp với Chúa Cứu Thế nếu từ lúc chúng ta bắt đầu tin cậy Ngài cho đến khi qua đời, chúng ta tiếp tục tin cậy nơi Ngài một cách nghiêm túc và xác tín. BSB BSB: We have come to share in Christ if we hold firmly to the end the assurance we had at first.
15 UDB Trong Kinh Thánh, trước giả Thi Thiên có chép Đức Chúa Trời phán rằng, “Bây giờ, khi các ngươi nghe ta phán cùng các ngươi, thì đừng ngoan cố mà không vâng lời ta như tổ phụ các ngươi đã làm khi họ phản loạn chống nghịch ta.” BSB BSB: As it has been said: “Today, if you hear His voice, do not harden your hearts, as you did in the rebellion.”
16 UDB Hãy nhớ những người đã phản nghịch Đức Chúa Trời là ai, mặc dù họ đã nghe Ngài phán cùng họ. Đó là toàn thể dân sự của Đức Chúa Trời mà Môi-se đã dẫn ra khỏi Ai Cập. BSB BSB: For who were the ones who heard and rebelled? Were they not all those Moses led out of Egypt?
17 UDB Và hãy nhớ những người mà Đức Chúa Trời gớm ghiếc trong bốn mươi năm là ai. Chính dân sự của Đức Chúa Trời là những kẻ đã phạm tội, và thân xác của họ đã nằm lại trong hoang mạc. BSB BSB: And with whom was God angry for forty years? Was it not with those who sinned, whose bodies fell in the wilderness?
18 UDB Và hãy nhớ những người mà về họ Đức Chúa Trời đã chính thức tuyên phán, “Họ sẽ không vào xứ mà ta sẽ cho họ an nghỉ.” Đó là những người Y-sơ-ra-ên không vâng lời Đức Chúa Trời. BSB BSB: And to whom did He swear that they would never enter His rest? Was it not to those who disobeyed?
19 UDB Vậy, từ tấm gương đó, chúng ta biết rằng vì họ không giữ sự tin cậy nơi Đức Chúa Trời nên họ không thể bước vào xứ nơi Đức Chúa Trời cho họ an nghỉ. BSB BSB: So we see that it was because of their unbelief that they were unable to enter.
Select verses for actions: Enter goes to them and Escape comes back.