2 UDB Chúa Giê-xu đáp lời họ rằng: “Anh em nghĩ rằng những người Ga-li-lê ấy bị như vậy là do họ phạm tội nặng hơn những người Ga-li-lê khác sao? BSB BSB: To this He replied, “Do you think that these Galileans were worse sinners than all the other Galileans, because they suffered this way?
3 UDB Tôi bảo đảm rằng, đó không phải vì lý do đó! Nhưng anh em cần ghi nhớ rằng Đức Chúa Trời cũng sẽ hình phạt anh em tương tự như vậy nếu anh em không từ bỏ hành vi tội lỗi của mình. BSB BSB: No, I tell you. But unless you repent, you too will all perish.
4 UDB Hay như tám người bị tháp ở Si-lô-ê bên ngoài thành Giê-ru-sa-lem ngã xuống đè chết họ thì sao? Anh em nghĩ rằng điều đó xảy ra bởi vì họ là những người tội lỗi hơn mọi người khác tại Giê-ru-sa-lem hay sao? BSB BSB: Or those eighteen who were killed when the tower of Siloam collapsed on them: Do you think that they were more sinful than all the others living in Jerusalem?
5 UDB Tôi bảo đảm rằng, không phải vì lý do đó! Nhưng thay vào đó, anh em cần phải ý thức rằng Đức Chúa Trời cũng sẽ hình phạt anh em tương tự như vậy nếu anh em không từ bỏ hành vi tội lỗi của mình!” BSB BSB: No, I tell you. But unless you repent, you too will all perish.”
7 UDB Cho nên ông đã nói với người làm vườn, ‘Nhìn cái cây này xem! Đã ba năm nay tôi đến hái quả mà chẳng được quả nào. Hãy đốn nó đi! nó chỉ hút chất bổ từ đất lên cách vô ích!’ BSB BSB: So he said to the keeper of the vineyard, ‘Look, for the past three years I have come to search for fruit on this fig tree and haven’t found any. Therefore cut it down! Why should it use up the soil?’
8 UDB Nhưng người làm vườn thưa: ‘Thưa ông chủ, xin chờ thêm một năm nữa. Tôi sẽ đào đất xung quanh và bón phân cho nó. BSB BSB: ‘Sir,’ the man replied, ‘leave it alone again this year, until I dig around it and fertilize it.
9 UDB Nếu năm sau nó ra quả, chúng ta sẽ để nó tiếp tục sống! Nhưng nếu khi đó nó vẫn không ra quả, ông có thể đốn nó đi.’” BSB BSB: If it bears fruit next year, fine. But if not, you can cut it down.’”
10 UDB Vào một ngày nghỉ của người Do Thái, Chúa Giê-xu đang dạy dỗ ở một trong số các nhà hội. BSB BSB: One Sabbath Jesus was teaching in one of the synagogues,
11 UDB Tại đó có một phụ nữ bị tà linh làm cho tàn tật suốt mười tám năm. Lưng cô bị còng và không thể đứng thẳng được. BSB BSB: and a woman there had been disabled by a spirit for eighteen years. She was hunched over and could not stand up straight.
12 UDB Khi Chúa Giê-xu nhìn thấy cô, Ngài gọi cô đến chỗ Ngài. Ngài nói với cô rằng: “Này cô, tôi đã chữa lành cho cô khỏi căn bệnh này!” BSB BSB: When Jesus saw her, He called her over and said, “Woman, you are set free from your disability.”
13 UDB Ngài đặt tay trên cô. Lập tức, cô đứng thẳng dậy và bắt đầu ngợi khen Đức Chúa Trời! BSB BSB: Then He placed His hands on her, and immediately she straightened up and began to glorify God.
14 UDB Nhưng người lãnh đạo nhà hội rất tức giận vì Chúa Giê-xu chữa lành cho bà vào ngày nghỉ của người Do Thái. Thế nên, ông nói với dân chúng: “Có sáu ngày trong tuần luật pháp của chúng ta cho phép mọi người làm việc. Nếu anh em cần được chữa bệnh, thì đó là những ngày anh em có thể đến nhà hội để được chữa lành. Đừng đến vào ngày nghỉ của chúng ta!” BSB BSB: But the synagogue leader was indignant that Jesus had healed on the Sabbath. “There are six days for work,” he told the crowd. “So come and be healed on those days and not on the Sabbath.”
15 UDB Chúa đáp lời ông rằng: “Ông và những người lãnh đạo tôn giáo bạn ông là bọn đạo đức giả! Tất cả các ông thỉnh thoảng cũng làm việc trong ngày nghỉ! Chẳng lẽ các ông không mở dây cho bò hay lừa khỏi máng ăn để dẫn nó đi đến chỗ uống nước sao? BSB BSB: “You hypocrites!” the Lord replied. “Does not each of you on the Sabbath untie his ox or donkey from the stall and lead it to water?
16 UDB Người phụ nữ này là một người Do Thái, là con cháu của Áp-ra-ham! Nhưng Sa-tan đã khiến cô bị tàn tật suốt mười tám năm như thể nó đã trói buộc cô! Chắc chắn các ông sẽ đồng ý với tôi rằng việc tôi giải phóng cho cô khỏi Sa-tan là điều nên làm, cho dù cho tôi có làm điều đó trong ngày nghỉ đi chăng nữa! BSB BSB: Then should not this daughter of Abraham, whom Satan has kept bound for eighteen long years, be released from her bondage on the Sabbath day?”
17 UDB Sau khi Ngài nói điều đó, các kẻ thù của Ngài đều lấy làm xấu hổ về bản thân họ. Nhưng tất cả những người khác thì vui mừng về những việc diệu kỳ mà Ngài đã làm. BSB BSB: When Jesus said this, all His adversaries were humiliated. And the whole crowd rejoiced at all the glorious things He was doing.
18 UDB Rồi Ngài nói: “làm thế nào tôi có thể giải thích được khi Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài như một vị vua thì sẽ thế nào? Tôi sẽ nói cho anh em biết là điều đó sẽ như thế nào: BSB BSB: Then Jesus asked, “What is the kingdom of God like? To what can I compare it?
19 UDB Việc đó cũng giống như một hạt cải nhỏ mà người kia lấy gieo nơi cánh đồng của mình. Nó mọc lên thành một cây to. Nó to đến nỗi chim chóc đến làm tổ trên cành của nó.” BSB BSB: It is like a mustard seed that a man tossed into his garden. It grew and became a tree, and the birds of the air nested in its branches.”
20 UDB Ngài lại nói: “Bằng một cách khác tôi sẽ nói cho anh em biết khi Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài như một vị vua thì sẽ như thế nào. BSB BSB: Again He asked, “To what can I compare the kingdom of God?
21 UDB Việc đó cũng giống như một chút men được một phụ nữ lấy trộn vào khoảng hai mươi lăm ký bột. Một chút men ấy đã làm dậy cả đống bột.” BSB BSB: It is like leaven that a woman took and mixed into three measures of flour, until all of it was leavened.”
22 UDB Chúa Giê-xu tiếp tục lên Giê-ru-sa-lem. Ngài ghé qua tất cả các thành và thôn làng trên đường đi để dạy dỗ dân chúng. BSB BSB: Then Jesus traveled throughout the towns and villages, teaching as He made His way toward Jerusalem.
23 UDB Có người hỏi Ngài: “Thưa Chúa, phải chăng Đức Chúa Trời chỉ cứu một vài người?” Chúa Giê-xu đáp: BSB BSB: “Lord,” someone asked Him, “will only a few people be saved?” Jesus answered,
24 UDB “Anh em cần nỗ lực để bước vào cửa hẹp. Tôi cho anh em hay, nhiều người sẽ cố gắng tìm những đường khác, nhưng họ không thể vào được. BSB BSB: “Make every effort to enter through the narrow door. For many, I tell you, will try to enter and will not be able.
25 UDB Sau khi người chủ nhà thức dậy và khóa cửa lại, anh em đứng ngoài cửa mà gõ. Anh em sẽ nài xin chủ nhà mà nói với người rằng: ‘Thưa Chúa, xin mở cửa cho chúng tôi!’ Nhưng Ngài sẽ trả lời: ‘Không, Ta sẽ không mở đâu vì Ta không biết các ngươi và Ta cũng chẳng biết các ngươi từ đâu đến!’ BSB BSB: After the master of the house gets up and shuts the door, you will stand outside knocking and saying, ‘Lord, open the door for us.’ But he will reply, ‘I do not know where you are from.’
26 UDB Anh em sẽ nói: ‘Ngài chắc đã quên rằng chúng tôi đã cùng ngồi ăn với Ngài và Ngài đã dạy dỗ cho chúng tôi trên những con đường trong các thành phố của chúng tôi!’ BSB BSB: Then you will say, ‘We ate and drank with you, and you taught in our streets.’
27 UDB Nhưng Ngài sẽ phán: ‘Ta lặp lại lần nữa, Ta không biết các ngươi và Ta cũng chẳng biết các ngươi từ đâu đến. Các ngươi là bọn gian ác! Hãy đi ra khỏi đây!’” BSB BSB: And he will answer, ‘I tell you, I do not know where you are from. Depart from me, all you evildoers.’
28 UDB Chúa Giê-xu nói tiếp: “Anh em sẽ nhìn thấy Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp từ xa. Tất cả các tiên tri ngày xưa cũng sẽ có mặt ở đó, trong nơi Đức Chúa Trời làm Vua cai trị muôn vật. Nhưng anh em sẽ bị ở ngoài, sẽ khóc lóc và nghiến răng trong đau đớn! BSB BSB: There will be weeping and gnashing of teeth when you see Abraham, Isaac, Jacob, and all the prophets in the kingdom of God, but you yourselves are thrown out.
29 UDB Hơn thế nữa, có nhiều người không phải người Do Thái sẽ được vào trong. Cũng sẽ có những người đến từ những vùng đất thuộc phương bắt, phương đông, phương nam và phương tây. Họ sẽ dự tiệc mừng việc Đức Chúa Trời cai trị trên muôn vật. BSB BSB: People will come from east and west and north and south, and will recline at the table in the kingdom of God.
30 UDB Hãy suy ngẫm về điều này: khi ấy, những người dường như tầm thường nhất trong hiện tại sẽ trở nên quan trọng nhất, và những người dường như quan trọng nhất trong hiện tại, khi ấy, sẽ trở thành tầm thường nhất.” BSB BSB: And indeed, some who are last will be first, and some who are first will be last.”
31 UDB Cũng trong ngày đó, có một số người Pha-ri-si đến nói với Chúa Giê-xu: “Hãy đi khỏi khu vực này, vì vua Hê-rốt An-ti-pa muốn giết Thầy!” BSB BSB: At that very hour, some Pharisees came to Jesus and told Him, “Leave this place and get away, because Herod wants to kill You.”
32 UDB Ngài đáp lời họ: “Hãy nói thông điệp này của Thầy với con cáo Hê-rốt ấy rằng: ‘Nghe đây! Hôm nay, tôi đuổi quỷ và làm phép lạ và tôi sẽ tiếp tục làm những việc ấy thêm một thời gian ngắn nữa. Sau đó, tôi sẽ hoàn tất công việc của mình. BSB BSB: But Jesus replied, “Go tell that fox, ‘Look, I will keep driving out demons and healing people today and tomorrow, and on the third day I will reach My goal.’
33 UDB Nhưng trong những ngày sắp tới tôi phải tiếp tục hành trình đi đến Giê-ru-sa-lem, bởi vì một đấng tiên tri không thể bị giết ở một nơi nào đó khác hơn Giê-ru-sa-lem. BSB BSB: Nevertheless, I must keep going today and tomorrow and the next day, for it is not admissible for a prophet to perish outside of Jerusalem.
34 UDB Ôi, dân thành Giê-ru-sa-lem! Các ngươi đã giết các đấng tiên tri đời xưa, và các ngươi cũng giết những người khác được Đức Chúa Trời sai đến bằng cách ném đá họ. Nhiều lần ta muốn gom các ngươi lại để bảo vệ các ngươi như gà mẹ túc những gà con của mình ở dưới cánh. Nhưng các ngươi không muốn ta làm vậy. BSB BSB: O Jerusalem, Jerusalem, who kills the prophets and stones those sent to her, how often I have longed to gather your children together as a hen gathers her chicks under her wings, but you were unwilling!
35 UDB Giờ thì hãy nghe đây, hỡi dân thành Giê-ru-sa-lem, Đức Chúa Trời sẽ không bảo vệ các ngươi nữa. Tôi cũng cho anh em biết: Tôi sẽ vào thành này chỉ một lần nữa thôi. Sau đó, anh em sẽ không thấy tôi nữa cho đến khi tôi trở lại, lúc ấy anh em sẽ nói về tôi rằng:‘Nguyện Đức Chúa Trời chúc phước cho người này, là người đến với thẩm quyền của Đức Chúa Trời!’” BSB BSB: Look, your house is left to you desolate. And I tell you that you will not see Me again until you say, ‘Blessed is He who comes in the name of the Lord.’”