2 UDB Tôi xin đáp lại rằng làm người Do Thái ích lợi nhiều cách lắm. Trước hết, chúng ta được lợi vì cha ông chúng ta là người nhận được lời phán của Đức Chúa Trời; những lời này bày tỏ cho chúng ta biết Ngài là ai. BSB BSB: Much in every way. First of all, they have been entrusted with the very words of God.
3 UDB Nhiều người Do Thái không vâng phục Đức Chúa Trời như đã hứa. Như vậy, ai đó có thể hỏi, “Có phải sự bất tín của họ có nghĩa là Đức Chúa Trời sẽ không ban phước cho người Do Thái chúng ta như Ngài đã hứa chăng?” BSB BSB: What if some did not have faith? Will their lack of faith nullify God’s faithfulness?
4 UDB Tôi xin trả lời, “Không, chắc chắn không phải như vậy! Đức Chúa Trời luôn thực hiện lời hứa của Ngài, cho dù chúng ta có thất tín. Tất cả những ai cáo buộc Đức Chúa Trời không giữ lời hứa đối với dân Do Thái chúng ta đều rất sai lầm.” Vua Đa-vít có viết về điều này: “Vậy nên mọi người đều phải thừa nhận lời Ngài nói về họ là đúng, và lẽ phải luôn thuộc về Ngài khi ai đó cáo buộc Ngài sai trái.” BSB BSB: Certainly not! Let God be true and every man a liar. As it is written: “So that You may be proved right when You speak and victorious when You judge.”
5 UDB Cho nên, nếu Đức Chúa Trời không ban phước cho người Do Thái chúng ta vì chúng ta gian ác, thì có thể nào chúng ta nói rằng Ngài hành động bất công chăng? Hay Ngài đã sai khi nổi cơn thạnh nộ trừng phạt chúng ta chăng? (Lẽ ra tôi không nên đặt những câu hỏi này về Đức Chúa Trời, nhưng tôi đang nói theo cách mà con người bình thường hay nói.) BSB BSB: But if our unrighteousness highlights the righteousness of God, what shall we say? That God is unjust to inflict His wrath on us? I am speaking in human terms.
6 UDB Chắc chắn là chúng ta không nên kết luận rằng Đức Chúa Trời không được đoán xét chúng ta, vì nếu Ngài không đoán xét người Do Thái chúng ta, thì cũng chẳng có lý gì mà Ngài lại đi đoán xét bất kì ai trên thế gian này! BSB BSB: Certainly not! In that case, how could God judge the world?
7 UDB Nhưng có thể ai đó đáp lại tôi: “Việc Đức Chúa Trời thật sự giữ lời hứa của đã trở nên rất rõ ràng vì tôi đâu có làm những gì Đức Chúa Trời truyền dạy. Nhưng kết quả là người ta ca ngợi Ngài vì lòng thương xót của Ngài. Cho nên Đức Chúa Trời cũng nên bỏ đi cái ý định hình phạt tôi vì tôi phạm tội, vì người ta đang ca ngợi Ngài cơ mà. BSB BSB: However, if my falsehood accentuates God’s truthfulness, to the increase of His glory, why am I still condemned as a sinner?
8 UDB Này ông Phao-lô, nếu lời ông nói là đúng, thì chúng tôi cũng có thể làm xấu để được kết quả tốt vậy! Rồi người ta sẽ ca ngợi Đức Chúa Trời thôi!” Một số người gièm pha tôi vì họ buộc tội tôi đã nói như vậy. Đức Chúa Trời sẽ hình phạt những ai nói những lời như thế về tôi, và họ đáng chịu Ngài hình phạt! BSB BSB: Why not say, as some slanderously claim that we say, “Let us do evil that good may result”? Their condemnation is deserved!
9 UDB Nếu có người hỏi, “Chúng ta sẽ kết luận rằng Đức Chúa Trời chiếu cố chúng ta nhiều hơn người ngoại sao?” tôi sẽ trả lời rằng chúng ta chắc chắn không thể kết luận như vậy! Tôi đã nói với anh em rằng tất cả mọi người, người Do Thái cũng như người ngoại, đều đã phạm tội và họ đáng bị Đức Chúa Trời trừng phạt. BSB BSB: What then? Are we any better? Not at all. For we have already made the charge that Jews and Greeks alike are all under sin.
10 UDB Những lời sau đây được chép trong Kinh Thánh củng cố cho điều tôi nói, Chẳng có người công bình nào hết. Dẫu một người công bình cũng không có! BSB BSB: As it is written: “There is no one righteous, not even one.
11 UDB Chẳng có ai hiểu phải sống thế nào cho phải. Chẳng có ai tìm biết Đức Chúa Trời! BSB BSB: There is no one who understands, no one who seeks God.
12 UDB Tất cả mọi người đều đã lìa bỏ Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời xem họ là sa đọa. Chẳng có ai hành xử một cách công chính; thậm chí một người cũng không có! BSB BSB: All have turned away, they have together become worthless; there is no one who does good, not even one.”
13 UDB Những gì người ta nói thật thô tục, giống như mùi bốc lên từ huyệt mả bị đào bới. Bởi lời nói, họ lừa dối người. Bởi lời nói, họ khiến người ta bị tổn thương, giống như nọc rắn gây thương tích. BSB BSB: “Their throats are open graves; their tongues practice deceit.” “The venom of vipers is on their lips.”
14 UDB Họ không ngớt chửi rủa người khác và nói lời cay độc. BSB BSB: “Their mouths are full of cursing and bitterness.”
15 UDB Họ mau mắn đi gây đổ máu. BSB BSB: “Their feet are swift to shed blood;
16 UDB Đến đâu họ cũng hủy hoại mọi thứ và khiến người ta đau khổ. BSB BSB: ruin and misery lie in their wake,
17 UDB Họ không biết sống hòa thuận với người khác. BSB BSB: and the way of peace they have not known.”
18 UDB Họ dứt khoát không chịu tôn kính Đức Chúa Trời! BSB BSB: “There is no fear of God before their eyes.”
19 UDB Hơn nữa, chúng ta biết rằng Môi-se đã viết những luật này cho người Do Thái, là dân tộc phải vâng phục luật pháp của Đức Chúa Trời. Từ đó, chúng ta biết được rằng chẳng có người Do Thái hoặc ngoại quốc nào có thể biện bạch gì được khi Đức Chúa Trời cho biết Ngài sẽ hình phạt họ vì tội họ đã phạm. Đức Chúa Trời đã tuyên bố rằng mọi người trên thế gian này đều có tội! BSB BSB: Now we know that whatever the law says, it says to those who are under the law, so that every mouth may be silenced and the whole world held accountable to God.
20 UDB Không phải nhờ người ta đã thực hiện những điều luật pháp Đức Chúa Trời đòi hỏi mà Ngài sẽ xóa tội cho họ, vì chẳng ai thực hiện những điều đó trọn vẹn cả. Thật ra, nhờ biết luật pháp của Đức Chúa Trời mà chúng ta ý thức rõ mình đã phạm tội. BSB BSB: Therefore no one will be justified in His sight by works of the law. For the law merely brings awareness of sin.
22 UDB Đức Chúa Trời xoá sạch tội lỗi của chúng ta vì chúng ta tin vào công việc mà Chúa Cứu Thế Giê-xu đã làm cho chúng ta. Đức Chúa Trời làm như vậy cho những ai tin cậy Đấng Cứu Thế, vì Ngài xem chẳng có sự khác biệt nào giữa người Do Thái và người ngoại. BSB BSB: And this righteousness from God comes through faith in Jesus Christ to all who believe. There is no distinction,
24 UDB Tội lỗi của chúng ta đã được xóa sạch nhờ Ngài rộng lượng tha tội cho chúng ta, khi mà chúng ta không cần phải làm gì để đáng được. Chúa Giê-xu đã hoàn tất việc này bằng cách chết thay cho chúng ta. BSB BSB: and are justified freely by His grace through the redemption that is in Christ Jesus.
26 UDB Đức Chúa Trời đã định Chúa Cứu Thế chết thay cho chúng ta. Bằng cách làm như vậy, giờ đây Ngài tỏ ra mình là công bình và cho thấy Ngài có thể xóa tội cho mọi người tin cậy Chúa Giê-xu mà vẫn không vi phạm đức công bình của Ngài. BSB BSB: He did this to demonstrate His righteousness at the present time, so as to be just and to justify the one who has faith in Jesus.
29 UDB Anh em là người Do Thái xin đừng bao giờ nghĩ Đức Chúa Trời chỉ chấp nhận anh em thôi. Anh em cần hiểu rằng Ngài cũng sẽ chấp nhận dân ngoại nữa., Dĩ nhiên Ngài chấp nhận dân ngoại BSB BSB: Is God the God of Jews only? Is He not the God of Gentiles too? Yes, of Gentiles too,
30 UDB vì, đúng như anh em tin chắc, chỉ có một Đức Chúa Trời. Chính Đức Chúa Trời là Đấng xưng công bình người Do Thái đã chịu cắt bì vì họ tin cậy Đấng Cứu Thế cũng là Đức Chúa Trời sẽ xưng công bình người dân ngoại chưa chịu cắt bì vì họ tin cậy Đấng Cứu Thế. BSB BSB: since there is only one God, who will justify the circumcised by faith and the uncircumcised through that same faith.
Select verses for actions: Enter goes to them and Escape comes back.